NEWS “Chuyện Đời Xưa” Của Trương Vĩnh Ký Vừa Được Tái Bản Và Ra Mắt Tại California

Tin đăng trong 'Sự kiện | Events' bởi admin, Cập nhật cuối: 10/04/2019.

  1. admin

    admin Administrator Staff Member

    Tham gia :
    16/04/2018
    Bài viết:
    6.401
    Lượt thích:
    5
    Điểm thành tích:
    56.034
    [​IMG]



    Tác phẩm “Chuyện Đời Xưa” của Pétrus Trương Vĩnh Ký – một trong những cuốn sách đầu tiên được viết và in bằng chữ Quốc ngữ vào cuối thế kỷ XIX để rồi trở thành sách giáo khoa cho các thế hệ sau – vừa được tái bản và ra mắt tại tiểu bang California trong hai buổi sinh hoạt văn học cách nhau hai tuần lễ (ngày 9-9-2017 ở San Jose, do Văn Thơ Lạc Việt tổ chức, và ngày 24-9-2017 tại Westminster, do Câu Lạc Bộ Tình Nghệ Sĩ tổ chức).

    Nhà văn nhà giáo Nguyễn Văn Sâm là người đã dựa trên bản in quý hiếm xưa cũ nhất (1914) để tái bản “Chuyện Đời Xưa”, và cũng là người đã bỏ nhiều công sức để chú giải những từ ngữ địa phương đặc thù của miền Nam mà ngày nay đã trở nên xa lạ đối với giới trẻ trong cũng như ngoài nước.

    Xin mời quý độc giả Phố Nhỏ Online theo dõi bài nhận định của Trần Văn Chánh nhân buổi ra mắt sách“Chuyện Đời Xưa của Trương Vĩnh Ký: Những Điều Thú Vị”, và đặc biệt là bài giới thiệu của Nguyễn Văn Sâm, nêu ra một số khía cạnh rất đáng chú ý về giá trị văn học cũng như giá trị lịch sử của tác phẩm này.

    ĐỌC QUYỂN “CHUYỆN ĐỜI XƯA” CỦA TRƯƠNG VĨNH KÝ VỚI LỜI CHÚ GIẢI CỦA NGUYỄN VĂN SÂM
    * Trần Văn Chánh

    [​IMG]Nói đến “Chuyện Đời Xưa” của Trương Vĩnh Ký (1837-1898), tôi nhớ ngay tới thời kỳ đầu học Trung học về môn Việt văn cách nay chừng nửa thế kỷ. Khi đó, những anh chị em học lớp Đệ lục (tương đương lớp 7 bây giờ) như tôi đều có học qua một số đoạn trích giảng lấy từ cuốn sách “Chuyện Đời Xưa“, mà một số bài đáng ghi nhớ nhất đã ghi sâu vào ký ức của tuổi thanh xuân làm cho nhớ mãi tới bây giờ, như “Chàng rể bắt chước cha vợ“, “Bụng làm dạ chịu“, “Ba anh dốt làm thơ“, “Học phép hà tiện“, “Hữu dõng vô mưu“, “Làm ơn mắc oán” v.v… Tôi đoán, muốn chê thơ ai quá dở, người ta dùng cụm từ “thơ con cóc”, có lẽ xuất phát đầu tiên là từ chuyện “Ba anh dốt làm thơ“, chứ không phải từ điển tích gì khác…

    Sở dĩ nhớ lâu, vì chuyện nào cũng ngắn gọn (chừng nửa trang giấy), đọc vô thấy đơn giản dễ hiểu mà rất dễ tức cười. Có cái cười ngặt ngoẽo bể bụng không nín được, nhưng cũng có cái cười thấm thía tế nhị, từ đó không chỉ hiểu được một cách sinh động tâm tính hồn nhiên của người Việt bình dân cách nay trên dưới một thế kỷ, mà còn rút ra được nhiều bài học và kinh nghiệm sống bổ ích. Khía cạnh bổ ích này, tác giả Nguyễn Văn Sâm đã có phân tích lược qua ở “Lời đầu sách” nên tại đây thiết tưởng không cần lặp lại thêm rườm.

    Nói là “chuyện đời xưa”, nhưng thật ra toàn những câu chuyện khôi hài thích hợp để đọc vui xả hơi sau ngày làm việc mệt nhọc cho cả người lớn lẫn trẻ em từ lứa tuổi biết đọc trở đi. Ngoài ra, người nào chú ý tìm hiểu hoặc nghiên cứu ngôn ngữ-văn chương Nam Bộ, hoặc biên soạn từ điển tiếng Việt, cũng phải cần đọc nó, vì bên trong chứa đựng rất nhiều tiếng địa phương độc đáo của miền Nam nước Việt, một thứ văn liệu quý hiếm xác thực để làm việc.

    Duy có điều hơi khó hiểu là tại sao một cuốn sách hay ho thú vị như vậy mà đến nay rất ít khi được tái bản? Trước năm 1975, ở miền Nam, còn nhớ có một bản do nhà xuất bản Khai Trí ấn hành, ngoài bìa vẽ màu cảnh đồng quê với hình ảnh người dân quê trông rất dễ thương. Từ đó về sau không thấy nữa. Tôi có nhắc lại tên sách với vài bạn trẻ đã học qua bậc đại học nhưng hầu như không em nào biết. Gần đây, trong cuốn “Petrus Ký Nỗi Oan Thế Kỷ” (Nguyễn Đình Đầu chủ biên, Tri Thức, 2016) thấy có in lại nguyên văn “Chuyện Đời Xưa” gồm 74 truyện, dựa theo bản in năm 1927, với tên gọi đầy đủ mà cũng rất dễ thương theo nguyên gốc: “Chuyện Đời Xưa – Lựa Nhón Lấy Những Chuyện Hay Và Có Ích“.

    Nay nhà giáo-nhà nghiên cứu kỳ cựu Nguyễn Văn Sâm không chỉ cho tái bản “Chuyện Đời Xưa” dựa theo bản in quý hiếm xưa cũ nhất (1914) mà còn gia công chú giải từ ngữ, giúp người đọc hiện nay dễ dàng hiểu tường tận văn bản nhờ nắm vững được những từ ngữ địa phương tuy trước đây tầm thường nhưng bây giờ đã trở nên xa lạ với không ít người, nhất là đối với giới trẻ trong cũng như ngoài nước.

    Riêng tôi lại còn tưởng tượng thêm, đồng bào nam phụ lão ấu ở hải ngoại mà có được cuốn sách này trong tay, họ sẽ quý nó như vàng. Bởi không chỉ để đọc cho vui giết thì giờ rảnh rỗi, tiếp nhận được những bài học cuộc sống không bao giờ lạc hậu, mà còn tìm thấy trong nội dung cuốn sách mỏng khiêm tốn này cái hồn của dân tộc Việt, từ đó thêm một chút tình hoài hương thắm thiết của những người xa xứ không quên quê cha đất tổ. Vì thế, tôi xin trân trọng, vừa cám ơn tác giả, vừa muốn giới thiệu “Chuyện Đời Xưa” có chú giải này của nhà giáo Nguyễn Văn Sâm đến đông đảo bạn đọc.

    Trần Văn Chánh (3-5-2017)

    “CHUYỆN ĐỜI XƯA” THỂ HIỆN SỰ GIỮ LỬA CỦA TIẾNG NÓI MIỀN NAM KỲ LỤC TỈNH
    * Nguyễn Văn Sâm (nguyên Giảng sư trường Đại Học Văn Khoa Sài Gòn trước năm 1975)

    [​IMG]Quyển “Chuyện Đời Xưa” của Trương Vĩnh Ký là quyển sách bán chạy nhứt và đi vào lòng dân chúng nhiều nhứt trong số hàng trăm tác phẩm của nhà văn nầy. In tới lui nhiều lần, năm 1914 đã in tới ngàn thứ chín trong một quốc gia lúc đó dân số chưa đầy 15 triệu với đường xá lưu thông không thuận tiện, sách báo in ở Sài Gòn lưu hành ra Trung và Bắc không phải là chuyện sanh lợi… Khi chữ Quốc ngữ phát triển đã vững vàng thì quyển sách nầy lại là món hàng được các nhà xuất bản ưa chuộng. Những lần in không đề tái bản lần thứ mấy và in với số lượng bao nhiêu thì phải nói là cơ man, dầu rất ít người biết.

    Tại sao quyển truyện khổ nhỏ, mỏng chưa tới 100 trang, nội dung thì chẳng có gì gọi là hấp dẫn. lại có sức thu hút như vậy?

    Chính là nhờ ông Trương khi viết đã nhằm vào hai mục tiêu căn bản rất hợp lý. Và ông đã đạt được gần như trọn vẹn điều mình đưa ra:

    1. Giáo dục về luân lý: Cho người đọc thấy những bài học tốt dùng trong cách ở đời của cả nam lẫn nữ, các ứng xử phải đạo vào trạng huống cần thiết, đề phòng kẻ xấu, chớ cả tin, chớ cho rằng mình hay giỏi vì trên đời còn nhiểu kẻ giỏi hơn mình…

    2. Dùng tiếng Annam (Việt Nam) ròng: Trong toàn quyển chuyện không sự kiện cố gắng làm văn chương một cách kịch cỡm, mặc dầu tô điểm văn chương không hẳn là xấu, ông chỉ sử dụng tiếng Việt thường nhựt, với những từ ngữ của giới bình dân (lo đái ra cây, tưởng đã xong đời, dồi quách, lẽo đẽo theo quấy, đút trây, trơ trơ mặt địa, đói xơ mép…). Người đọc đón nhận nồng nhiệt cũng vì lẽ đó. Nó gần gũi với người đọc trong từng câu chuyện đã đành, nó còn không cách xa về ngôn từ để kén chọn độc giả như là những “tác phẩm bác học” kiểu Đoạn Trường Tân Thanh, Chinh Phụ Ngâm, Cung Oán Ngâm Khúc, Tần Cung Nữ Oán Bái Công, Lưu Nữ Tướng, Dương Từ Hà Mậu, Kim Thạch Kỳ Duyên, Lôi Phong Tháp, Tây Du Diễn Truyện v.v… Nó cũng dễ bắt ta tiếp tục đọc cho tới hết quyển, trái với những tác phẩm lớp trung lưu mà những nhà làm văn học sử gọi là “tác phẩm bình dân” như Trần Đại Lang, Trinh Thử, Trê Cóc, Thoại Khanh Châu Tuấn, Lý Công, Nữ Tú Tài, Nhị Độ Mai, Phan Trần v.v…

    Đó là nói về lời văn. Ở mặt sự kiện trong truyện, tác giả còn khéo léo cho thấy sinh hoạt của dân chúng, hầu hết là vào đầu thế kỷ 19, nên đây là nguồn tư liệu dồi dào về những chi tiết của cuộc sống dân ta mà gần như ngày nay không thể thấy được, không thể hiểu được cho tường tận do sự thay đổi của xã hội (ăn ong, ăn bánh lớ, cái chày mổ, đèn ló của ăn trộm, mõ ống, sư làm đám, hầm bắt cọp, bắt chồn, tục mai dong, tục ở rể, thách cưới, ăn chè trưa, thầy pháp trừ tà, ăn cướp trên sông).

    Sách viết hơn trăm năm trước, bằng tiếng dùng hằng ngày của dân miền cực Nam nên chắc chắn là khó hiểu với phần đông người đọc hiện giờ. Sự giải thích những từ nầy là cần thiết, nên quyển sách “Chuyện Đời Xưa của Trương Vĩnh Ký: Người giữ lửa cho tiếng nói miền Nam” có lý do để ra đời. Bản đánh máy được cẩn thận dò theo bản in năm 1914 được phóng lớn để tránh sơ sót và có thể đính chánh một vài trường hợp in sai của bản in 1914.

    Trong sự chú giải, chúng tôi chú trọng trên những từ địa phương miền Nam vốn càng ngày càng xa lạ với người miền Trung, miền Bắc. Những cách nói địa phương của thời tác phẩm xuất hiện (1873) cũng được lý giải, nếu bỏ qua người đọc sẽ khó hiểu. Một vài cách nói nay đã thay đổi, những trường hợp chữ dùng nay đã biến mất chúng tôi cũng ghi nhận mặc dầu có vẻ như hơi xa mục đích của sự chú giải một bản văn.

    Về phần nội dung thì đại khái nhân vật được nói đến gồm hai loại, Người và thú vật.

    – Chuyện thú vật tương đối ít, chỉ có 13 chuyện trên tổng số 74 như: Con chồn với con cọp-c1, Con cóc tía với con cọp và con khỉ-c3, Cọp bị đá-c25, Cọp mắc đuôi trong buội dừa nước-c26, Ăn trộn và Cọp rình nhà-c27, Con chó và con gà-c31, Cọp mắc bẫy không ai thèm cứu-c53, Ruồi, muỗi chim sắc với con rùa-c54, Con cóc với chuột-c55, Hữu dõng vô mưu-c56, Mưu trí hơn là sức mạnh-c62, Con thỏ gạt con cù-c65, Cọp mắc mưu thỏ-c66, Chó sói và chồn-c71.

    Với tỷ số 13/74 truyện loài vật, quá ít so với truyện con người nên ông Trương Vĩnh Ký có lý khi đặt tên quyển sách của mình là “Chuyện Đời Xưa” mà không phải là Chuyện Ngụ Ngôn. Nhìn chung hầu hết là chuyện về con cọp, với chuyện con cù phụ thêm: mạnh nhưng không khôn, thường bị chúng gạt đẩy vô thế phải gánh nạn cũng như bị lợi dụng. Chắc chắn rằng ông Trương có dụng ý gì đó (*)

    Ngoài sự dạy khôn người đời, chẳng hạn như sức mạnh của thực dân Pháp không lợi hại bằng trí khôn của chồn, của thỏ, của người nông phu tượng trưng cho dân Việt. Điều nầy có thể tin được nếu ta để ý đến nhiều yếu tố khác ngoài đời của tác giả. Chúng ta phải ghi nhận rằng Trương Vĩnh Ký không có chức quyền gì trong hệ thống hành chánh của Pháp ngoài những vai trò liên quan đến giáo dục, không vô Pháp tịch để được ưu đãi, hay hành động can trường của ông khi cho đăng bài “Vè Nằm Dỏ” trên tạp chí Miscellannées số 4 năm 1889 có những câu rất chống Pháp: “Từ ngày có giặc Lang Sa, Muôn dân thiên hạ nhà nhà đảo điên. Dân tình ai nấy ưu phiền, Sưu cao thuế nặng quan truyền vô đây. Ngày thì bồi lội đông tây, Tối thì ra dỏ, roi dây hẳn hòi…”

    (*) Dụng ý kiểu nầy ta còn thấy trong “Bài Hịch Con Quạ” của Trương Vĩnh Ký (Nguyễn Văn Sâm giải thích và chú giải)

    Truyện loài vật chiếm 13, nhưng chuyện cọp gần cả chục, lý do vì thời Trương Vĩnh Ký cọp quá nhiều ở Đồng Nai và vùng lân cận, sách Đại Nam Nhứt Thống Chí, Lục Tỉnh Nam Việt biên thuật trước đó vài chục năm ghi nhận nhiều chuyện cọp về tới sát nách chỗ dân cư.

    – Chuyện về người tương đối nhiều (61 trong số 74 truyện) kể đủ thứ: Người khờ khạo, người “đi bạn” khùng, anh sợ vợ, tên nói láo gạt người, gã hà tiện tới chết không chừa, kẻ ba xạo để kiếm chút cơm, người tham ăn với con với dâu với vợ, ông thầy dốt chữ tham ăn, ông thầy pháp sợ ma, quan lại ăn hối lộ bị nói xâm chưởi xéo, con gái ham chồng làm quan lớn… Đủ hết bức tranh xã hội về mặt tiêu cực của mọi thời. Chọn mặt tiêu cực nhiều vì như Trương Vĩnh Ký đã nói trong phần Ý Sách Chuyện Đời Xưa: “…ta bày ra để mà khen sự tốt, chê sự xấu cho người ta sửa cách ăn nết ở cho tử tế“.

    Đây không phải là Chuyện Giải Buồn, cũng không phải là Chuyện Tiếu Lâm, đây là những chuyện có tính cách luân lý, khác với những chuyện của Thọ An Phạm Duy Tốn (Tiếu Lâm An Nam, Ích Ký, Hanoi, 1924) khác xa với những chuyện của Trần Phong Sắc và Huỳnh Khắc Thuận (Tân Tiếu Lâm, J. Viet, Saigon, 1918).

    Tiện đây cũng xin chép lại phần quan trọng trong lời tựa quyển sách của Trần Phong Sắc: “Phàm chuyện Tiếu lâm, Khôi hài, là chê sự xấu, biếm kẻ lỗi, làm cho người có tịch ấy biết mất cở mà sửa mình, chớ không phải coi cho nực cười mà thôi. Bởi cớ ấy, nên các nước đều có sách Tiếu lâm, chuyện Khôi hài. Một là sửa phong tục hai là giúp sự vui cho mấy vị trưởng lão, có tuổi tác không đi chơi bời đặng thì nghe con cháu đọc chuyện ấy mà cười cho vui“.

    Trương Vĩnh Ký chỉ chú ý đến mặt luân lý sửa đời, Phạm Duy Tốn cũng như Trần Phong Sắc thêm yếu tố làm cho người ta nực cười nên sự châm chọc mạnh bạo hơn, tính chất dung tục nhiều khi cũng đậm đà, trong khi đó sự châm chọc bao biếm ở Trương Vĩnh Ký nhẹ nhàng và yếu tố tục không có.

    Bản in nầy cũng nhằm đáp ứng lời yêu cầu của một vài cựu học sinh trường Petrus Ký khi họ tỏ ra tiếc rằng mình không hiểu nhiều chỗ khi đọc quyển “Chuyện Đời Xưa” hay thậm chí không tìm thấy quyển sách quí nầy để đọc.

    Nhân kỳ in nầy chúng tôi cũng xin cúi đầu tạ ơn nhà văn hóa Vương Hồng Sển, vị thầy cũ của tôi ở trường Đại Học Văn Khoa Sài Gòn ngày trước, nhờ ông trân trọng giữ gìn bản in quí năm 1914 nên chúng tôi mới có cơ hội sửa đúng lại theo nguyên văn một bản tương đối là xưa cũ, mặc dầu Trương Vĩnh Ký xuất bản quyển “Chuyện Đời Xưa” nầy trước đó cũng mấy mươi năm (1873).

    Nguyễn Văn Sâm (Victorville, CA, tháng 11, 2016)
     
    Đang tải...

Chia sẻ trang này