An Chi

Tin đăng trong 'Tác giả | Authors' bởi admin, Cập nhật cuối: 04/10/2018.

Tags:
  1. admin

    admin Administrator Staff Member

    Tham gia :
    16/04/2018
    Bài viết:
    9.161
    Lượt thích:
    9
    Điểm thành tích:
    81.776
    Tôi biết có rất nhiều người, hễ cầm đến số Kiến thức ngày nay mới ra (hay mới mượn được) là tìm đọc ngay mục “Chuyện Đông chuyện Tây” của An Chi. Dĩ nhiên cũng có những người đọc trước tiên những mục khác, chẳng hạn như những người đang nóng lòng đọc phần tiếp theo của một truyện đăng nhiều kỳ đang đọc dở, nhưng có thể biết chắc rằng sau đó người ấy thế nào cũng tìm đọc “Chuyện Đông chuyện Tây”.
    Có một lần tôi đi photocopy một bài mà tôi viết chung với An Chi. Khi nhìn thấy tên tôi đặt cạnh tên An Chi, người thợ đứng máy ngạc nhiên hỏi tôi: “Thế ra chú quen cả đến cụ An Chi?”. Quả có nhiều người hình dung An Chi là một cụ già đầu bạc trán hói, thông kim bác cổ, suốt ngày vùi đầu trong những đống sách cũ kỹ. Trong trí tưởng tượng của họ, An Chi gần như là một nhân vật huyền thoại, khó lòng có thật trong cuộc sống còn nhiều hàng dỏm, sách dỏm và trí thức dỏm này.
    An Chi (cũng là Huệ Thiên, một bút danh khác do nói lái cái tên thật Thiện Hoa mà thành) chưa phải là một cụ già. Hồi bắt đầu viết cho Kiến thức ngày nay (1990), anh chỉ mới vượt qua tuổi năm mươi. Anh vốn là học sinh trường Chasseloup-Laubat ở Sài-gòn. Khi Hiệp định Genève được ký kết, anh quyết định chọn miền Bắc, và đã kịp mua vé máy bay ra Hải Phòng trước khi chấm dứt thời hạn 300 ngày, trong tay có thư giới thiệu của Đảng ủy Đặc khu (vì anh tham gia đoàn thể học sinh kháng chiến ở Sài Gòn). Nhưng anh không thấy cần tới tờ giấy này, và có lẽ đó là một trong những nguyên nhân chính của những chuyện không may của anh sau này, vì thời ấy còn có những người (tuy ít ỏi) không tin rằng có thể có những thanh niên con nhà khá giả lại đi chọn miền Bắc nếu không có ý đồ đen tối nào đó. Sau khi tốt nghiệp trường Sư phạm Trung cấp Trung ương (Cầu Giấy, Hà Nội), anh đi dạy cấp hai ở Thái Bình. Nhưng chỉ sáu năm sau, vì bị coi là có những tư tưởng lệch lạc, anh bị thải hồi, và vì hoàn toàn không nơi nương tựa, anh phải ở nhờ nhà một bác cấp dưỡng tốt bụng. Sau đó anh xin được làm hợp đồng trong Trường Bồi dưỡng cán bộ giáo viên của tỉnh, chuyên mua than củi muối gạo cho trường, cho đến khi được Bộ Nội vụ triệu tập lên Hòa Bình học lớp chính trị của Trường 20-7 “dành cho cán bộ miền Nam vì lý do này hay lý do khác không còn trong biên chế nhà nước”. Sau đó anh trở về Hà Nội học nghề thợ nguội và thợ tiện ở Nhà máy xe đạp Thống Nhất rồi phụ trách bổ túc văn hóa tại nhà máy. Từ năm 1972, anh được chuyển đến Trường Học sinh miền Nam số 8 ở Tam Đảo (Vĩnh Phú). Đến khi miền Nam giải phóng, anh được chuyển vào Sở Giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh rồi Phòng Giáo dục Quận 1 làm nhiều công tác khác nhau, rồi đến 1984 anh xin về hưu non để dành hết thì giờ cho việc đọc sách và nghiên cứu những vấn đề mà anh đã quan tâm từ hai mươi năm trước, nghĩa là từ khi anh bị thải hồi.
    An Chi bao giờ cũng nuôi một niềm tri ân chân thành và sâu xa đối với những người lãnh đạo đã thải hồi anh vì nhờ đó mà anh được bắt tay vào một việc xưa nay vẫn là ước mơ tha thiết nhất của đời anh: học, học thực sự, học để biết, để trở thành người có ích, chứ không phải để có bằng này, bằng nọ hay danh vị này, danh vị khác. Từ khi được giải phóng ra khỏi công việc giảng dạy ở nhà trường, anh dành tất cả thời gian không phải đi mua than củi hay gạo muối để lao vào học, học cho kỳ được những gì mình vẫn thèm iết mà trước kia vì phải soạn bài, chấm bài và lên lớp giảng nên chưa làm được. Thoạt tiên, anh vớ được một cuốn Thượng của bộ Từ hải và một cuốn từ điển chữ Hán dành cho học sinh của nhóm Phương Nghị. Rồi từ đó trở đi, suốt gần 30 năm anh không ngừng tìm kiếm sách vở để học thêm về các khoa học xã hội và nhân văn, dù là trong khi làm thợ nguội, đi học tập chính trị, hay chạy việc hành chính, anh đều dành hết tâm trí cho việc học. Và cũng như thói thường, càng học thì lại càng thấy mình biết quá ít, cho nên anh chỉ thấy mình được sống thực sự sau khi đã về hưu non và được ngồi suốt ngày bên bàn viết, giữa mấy ngàn pho sách yêu quý mà anh đã tích lũy được trong bấy nhiêu năm.
    Từ khi Ban biên tập Tạp chí Kiến thức ngày nay giao cho An Chi phụ trách chuyên mục Chuyện Đông chuyện Tây, anh đã dành khá nhiều thì giờ để trả lời cho những bạn đọc thấy cần thỏa mãn những mối băn khoăn về chữ nghĩa và tri thức nói chung. Anh thấy đây là một công việc có ích cho nhiều người, mặc dầu công việc này có làm cho anh sao nhãng ít nhiều những vấn đề mà anh chuyên tâm nghiên cứu từ lâu, nhất là những vấn đề về lịch sử tiếng Việt. Và tuy anh biết rất rõ rằng thời nay không có ai có thể tự cho mình là “nhà bách khoa” cái gì cũng biết, nhưng những câu trả lời của anh trên tạp chí đã làm thỏa mãn được phần đông độc giả vì đó đều là kết quả của một quá trình tra cứu nghiêm túc, đầy tinh thần trách nhiệm đối với khoa học và đối với những người đã có lòng tin cậy mình. Thêm vào đó là lời văn trong sáng, đĩnh đạc, nhiều khi dí dỏm một cách nhã nhặn và tuệ minh, làm cho việc đọc anh trở thành một lạc thú thanh tao.
    Dĩ nhiên, tôi không dám nói An Chi bao giờ cũng đúng. Errare humanum est. Không phải anh bao giờ cũng tìm được cách trả lời tối ưu có thể làm hài lòng những chuyên gia khó tính. Nhưng tôi tin chắc rằng một người đọc trung bình như tôi, khi đọc xong một đoạn giải đáp của An Chi, ít nhất cũng thấy mình biết thêm được một cái gì bổ ích, và đó quả thật là một điều tối đa có thể chờ mong ở một tạp chí dành cho quần chúng rộng rãi như Kiến thức ngày nay.
    Nói như vậy không có nghĩa là trong những bài trả lời ngắn gọn của An Chi không lóe lên những tia sáng của một tài năng chân chính. Những ý kiến của An Chi về gốc Hán của yếu tố “kẻ” đứng trước những địa danh mà có người tưởng là “nôm” như Kẻ Sặt, Kẻ Noi (do chữ Giới 界: xem Kiến thức ngày nay, số 229); về gốc Hán của chữ chiềng (do chữ Trình 呈?: xem Kiến thức ngày nay, số 225) mà có người cho là dùng để chỉ công xã nông thôn dưới thời Hùng Vương, việc anh cải chính những chỗ sai quan trọng của Từ điển Bách khoa Việt Nam như về quốc hiệu Đại Nam mà Từ điển Bách khoa Việt Nam nói là do Gia Long đặt (Kiến thức ngày nay, số 212); sự sai trái của cách nói “sau Công nguyên” (Kiến thức ngày nay, số 219) và rất nhiều chuyện khác nữa, được anh chứng minh và trình bày đủ sức thuyết phục để ngay các chuyên gia cũng phải tán thành.
    Nhiều bài giải đáp của An Chi làm cho người đọc thấy hé mở ra những luận điểm khoa học quan trọng và thú vị, khiến họ phải lấy làm lạ mà tự hỏi tại sao nó không được anh trình bày thành những chuyên luận. Ta hãy yên tâm chờ đợi. Những người như An Chi thường rất khó tính đối với bản thân. Rồi sẽ có ngày những chuyên luận ấy đủ chín muồi để tác giả thấy có thể đem nó ra đóng góp vào nền khoa học nhân văn của đất nước. Nhưng dù chỉ có mấy tập Chuyện Đông chuyện Tây không thôi thì tôi cũng thấy học được của anh rất nhiều rồi. Vả chăng chính cuộc đời của An Chi cũng đã là một tấm gương sáng chói của ý chí vượt qua mọi nỗi gian truân để đạt đến một đỉnh cao của tri thức.
     
    Đang tải...
  2. admin

    admin Administrator Staff Member

    Tham gia :
    16/04/2018
    Bài viết:
    9.161
    Lượt thích:
    9
    Điểm thành tích:
    81.776
    [​IMG]

    NHÀ NGHIÊN CỨU AN CHI


    Nhà nghiên cứu An Chi còn có bút danh quen thuộc khác là Huệ Thiên, tên khai sinh Việt Nam: Võ Thiện Hoa, tên Pháp: Emile Pierre Lucatos, sinh ngày 27 tháng 11 năm 1935 tại Sài Gòn. Quê quán: Bình Hoà xã, Gia Định, nay thuộc quận Bình Thạnh, TP.HCM.


    Ông là học sinh kháng chiến thời chống Pháp. Tháng 5.1955, ông vượt tuyến ra Bắc đi thanh niên xung phong, học Trường Sư phạm trung cấp trung ương ở Hà Nội, dạy cấp 2 ở Thái Bình, phụ trách thư viện Trường Học sinh miền Nam số 8 ở Tam Đảo,…


    Tháng 8.1975, ông trở về miền Nam tiếp tục công tác trong ngành giáo dục, rồi về hưu non, đọc sách, nghiên cứu. Từ năm 1990, An Chi bắt đầu cộng tác với báo chí, phụ trách các chuyên mục thường xuyên: “Chuyện Đông chuyện Tây” trên Kiến Thức Ngày Nay, “Từ chữ đến nghĩa” trên Đương Thời,… và An Ninh Thế Giới, Người Đô Thị, Đại Học Quốc Gia TP.HCM, Năng Lượng Mới,...


    Tác phẩm đã xuất bản:


    - Chuyện Đông chuyện Tây (7 tập - NXB Trẻ và NXB Tổng hợp TP.HCM, từ 1998-2017)

    - Những tiếng trống qua cửa các nhà sấm (nghiên cứu - NXB Trẻ 2004, NXB Tổng hợp TP.HCM tái bản 2017)

    - Rong chơi miền chữ nghĩa (3 tập - NXB Tổng hợp TP.HCM 2016)

    - Câu chữ Truyện Kiều (nghiên cứu - NXB Tổng hợp TP.HCM 2017)
     
  3. admin

    admin Administrator Staff Member

    Tham gia :
    16/04/2018
    Bài viết:
    9.161
    Lượt thích:
    9
    Điểm thành tích:
    81.776
    NVTPHCM- Nguyên nhân nào đã đưa đến sự khác nhau về việc dùng từ giữa miền Nam và miền Bắc, chẳng hạn miền Nam gọi mũ thành nón, gọi bát thành chén,…?


    Suy cho cùng và về căn bản thì tiếng Việt là một ngôn ngữ thống nhất từ Đàng Ngoài đến Đàng Trong, từ Bắc vào Nam. Trước kia, khi những người lưu dân từ Đàng Ngoài vào Đàng Trong sinh cơ lập nghiệp thì họ đem theo tiếng nói mà tổ tiên của mình đã nói ở Đàng Ngoài. Cứ lấy hai cặp từ “mũ - nón” và “chén - bát” làm mẫu để phân tích thì ta cũng có thể thấy được vấn đề.

    [​IMG]

    Học giả An Chi


    Việt Nam tự điển của Khai trí tiến đức (1931), lấy tiếng miền Bắc làm nền tảng, đã ghi nhận cả “mũ” lẫn “nón”. “Mũ” được giảng là “đồ đội trên đầu là bằng dạ, bằng sợi hay bằng tóc”, với 5 mục phụ là các danh ngữ “mũ bình-thiên”, “mũ cánh chuồn”, “mũ đông-pha”, “mũ mấn” và “mũ ni”. “Nón” thì được quyển từ điển này giảng là “đồ đội trên đầu thường làm bằng lá để che mưa nắng”, với 14 mục phụ là các danh ngữ “nón ba tầm”, “nón cời”, “nón chân tượng”, “nón chóp”, “nón dấu”, “nón dứa”, “nón Gò-găng”, “nón gõ”, “nón lá”, “nón lông”, “nón Nghệ”, “nón ngựa”, “nón tu lờ”, “nón thúng”. Nói cho vui thì tỷ số giữa “nón” với “mũ” là 14-5; chứng tỏ “nón” không phải là không thông dụng ở miền Bắc thời xưa. Ca dao có những câu như:


    - Trời mưa thì mặc trời mưa,

    Tôi không có nón trời chừa tôi ra.


    - Hỏi cô nón thúng quai thao

    Chồng cô đi thú biết bao giờ về


    Còn anh lính thú thì:


    - Ngang lưng thì thắt bao vàng

    Đầu đội nón dấu vai mang súng dài…


    Những câu trên đây chắc chắn không phải là đặc sản của Đàng Trong và cứ như trên thì hiển nhiên người Bắc cũng xài “nón” và “nón” là cái vật dụng mà người lưu dân Đàng Trong đã đem từ Đàng Ngoài vào miền Nam.


    Với cặp “chén - bát” cũng vậy. “Chén” đã ra đời ở Đàng Ngoài nên cũng là do dân miền Nam đem từ miền Bắc vào thôi. Nguyễn Trãi (1380-1442) đã xài “chén” trong Quốc âm thi tập:


    Đêm thanh hớp nguyệt nghiêng chén

    Ngày vắng xem hoa bợ cây

    (Ngôn chí, bài 13, câu 3)


    hoặc


    Ngon mùi đạo phiến hoàng quyển

    Rửa lòng sầu chén tử hà

    (Tự thuật, bài 114, câu 6)


    Lúc bấy giờ, làm gì đã có Đàng Trong với miền Nam! Đây là nói chuyện xa xưa còn trở lại với thời nay thì cũng đâu có phải là dân miền Nam không xài “bát” (mà họ đã thay bằng “chén” một cách gần như “đều trời”, dĩ nhiên là trời miền Nam). Trong Nam, các tu sĩ của Phật giáo Nam tông thường đi khất thực với chiếc “bình bát” để đựng thức ăn. “Bình bát” chẳng qua là “bình đựng giống hình cái bát”. “Bình bát” hiển nhiên là đặc sản của miền Nam. Còn ngoài Bắc thì có câu “tay chén tay đũa”. “Chén” ở đây dĩ nhiên không phải là cái chung nhỏ dùng để uống rượu, mà chính là cái bát. Tay này bưng chén (= bát) còn tay kia thì cầm đũa để gắp thức ăn và và cơm chứ cái chén (= chung) rượu thì đi chung với đôi đũa sao được? Ta còn có thể thấy đến giữa thế kỷ XVII, ở Đàng Ngoài, danh từ “chén” vẫn còn mang nghĩa “bát”. Bằng chứng là, tại mục “chén”, Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum của A. de Rhodes (Roma, 1651) có ghi nhận cía thí dụ “một chén thuốc” với nghĩa là một liều thuốc nước. Thuốc ở đây là thuốc Bắc, “sắc x chén còn y chén” (x và y chỉ số lượng) để uống cho nên đây phải là cái bát chứ không thể là cái chung nhỏ xíu để uống rượu được.


    Vậy sự khác nhau mà bạn đã nêu do đâu mà ra? Chúng tôi cho rằng có hai nguyên nhân chính: một là tình trạng giao thông bị trở ngại, nhất là trong thời kỳ Nam Bắc phân tranh kéo dài hơn một thế kỷ; hai là chính sách của nhà Nguyễn nhằm làm cho người Đàng Trong khác với người Đàng Ngoài về nhiều mặt sinh hoạt. Với tốc độ “nhanh như chớp” của lĩnh vực giao thông cũng như truyền thông thời @ thì ta khó mà tưởng tượng được sự gian nan khôn tả của người lưu dân từ Đàng Ngoài vào Đàng Trong để sinh cơ lập nghiệp cách đây 5 thế kỷ. Những khó khăn khó hình dung nổi đó là một trở ngại lớn cho sự giao lưu văn hoá, ngôn ngữ giữa hai Đàng, nhất là trong hơn 100 năm Nam Bắc phân tranh. Vì vậy cho nên, nói về mặt ngôn ngữ, người Đàng Trong đem theo cái gì thì cứ giữ như thế mà xài, không cần mà nhất là cũng khó có thể biết người Đàng Ngoài có thay đổi nó hay không, hoặc thay đổi như thế nào. Họ đã đem theo cái “chén” mà cả họ và người Đàng Ngoài đều dùng theo nghĩa “bol” của tiếng Pháp và “bowl” của tiếng Anh. Nhưng khi người Đàng Ngoài đã thay tên của cái “chén” bằng từ “bát” trong sinh hoạt bình thường, trong những bữa ăn hằng ngày, chẳng hạn thì họ vẫn giữ cái tên “chén”, mặc dù không phải là họ đã tuyệt đối không biết đến từ “bát”. Đã thế, họ lại còn chịu áp lực nặng nề của chính sách mà các đời chúa Nguyễn ở Đàng Trong thực hiện nhằm làm cho người Đàng Trong khác với người Đàng Ngoài về nhiều mặt sinh hoạt, đặc biệt là trong đời Nguyễn Phúc Khoát. Lê Văn Hảo đã ghi nhận:


    “Đóng góp nhiều nhất cho văn hóa Phú Xuân có lẽ là Nguyễn Phúc Khoát (trị vì 1738-1765), còn gọi là Võ Vương, cho đúc ấn Quốc Vương (1744), tiến hành thay đổi phong hóa và trang phục Đàng Trong cho khác với Đàng Ngoài (cấm phụ nữ không được mặc váy yếm, phải thay bằng quần dài, áo dài, v.v…)” (Việt Nam Văn Hiến Ngàn Năm - 9. Thời Tiền Nguyễn (1558-1777) hay hai thế kỷ hình thành và bước đầu hưng khởi của văn hóa Phú Xuân). Điều này cũng đã được Hãn Nguyên ghi nhận trong bài “Hà Tiên, chìa khóa Nam tiến của dân tộc Việt Nam xuống đồng bằng sông Cửu Long” (Tập san Sử - Địa số 19-20, 1970, tr. 259-283).


    Chúng tôi chưa tìm thấy một tài liệu nào nói đến chủ trương cụ thể của các chúa Nguyễn quy định việc dùng từ khác nhau giữa hai Đàng kiểu như hai cặp từ “chén - bát” và “mũ - nón” nhưng chúng tôi nghĩ rằng phải có một sự chỉ đạo thì mới có hiện tượng có thể xem như “đối ứng” không những ở hai cặp bạn đã nêu, mà còn ở nhiều cặp khác tương tự.


    Hai nguyên nhân mà chúng tôi đưa ra là để giải thích sự khác nhau giữa hai từ theo kiểu “đối ứng” trong từng cặp như trên chứ sự khác nhau về từ ngữ giữa miền Bắc và miền Nam còn chịu sự chi phối của nhiều nhân tố khác nhau liên quan đến đời sống vật chất và tinh thần giữa hai miền mà chúng tôi chưa có đủ điều kiện để tổng hợp.


    Đây, lấy từ bài “Tiếng Nam, tiếng Bắc đang xích lại gần nhau” của PGS.TS Phạm Văn Tình (Bản tin Đại học Quốc gia Hà Nội):


    1. Tương đương với từ trước của miền Nam là từ sau của Miền Bắc: dơ bẩn, đau ốm, lời lãi, bao bọc, mai mối, hư hỏng, dư thừa, kêu gọi, sợ hãi, hình ảnh, la mắng, bồng bế, hăm dọa.


    2. Tương đương với từ trước của miền Bắc là từ sau của miền Nam: thóc lúa, giẫm đạp, đón rước (trong phương ngữ Bắc Bộ, rước mang nghĩa trang trọng), lừa gạt, sắc bén, lau chùi, thứ hạng, chăn mền, chậm trễ, tìm kiếm, vâng dạ, đùa giỡn, thuê mướn, mau lẹ, hung dữ, trêu chọc.


    AN CHI
     

Chia sẻ trang này