KHÁI LƯỢC LỊCH SỬ TƯ TƯỞNG TRIẾT HỌC VIỆT NAM

Tin đăng trong 'Sách hay, tài liệu hay' bởi admin, Cập nhật cuối: 08/05/2018.

  1. admin

    admin Administrator Staff Member

    Tham gia :
    16/04/2018
    Bài viết:
    6.992
    Lượt thích:
    6
    Điểm thành tích:
    61.364
    [​IMG]
    Khi biên soạn cuốn sách này, chúng tôi có suy nghĩ về cách phân kỳ trong lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam. Có ba cách phân kỳ lịch sử triết học tương đối phổ biến: Một là, phân kỳ theo tiến trình lịch sử (biên niên); Hai là, phân kỳ theo các trường phái tư tưởng lớn, có thể là (1) Tư tưởng bản địa, (2) Phật giáo Việt Nam, (3) Nho giáo Việt Nam, (4) Tư tưởng cải cách và dân chủ...; Ba là, phân kỳ theo các vấn đề triết học, có thể là các vấn đề (1) Bản thể luận, (2) Nhận thức luận, (3) Đạo đức học, (4) Triết học chính trị... Sau khi cân nhắc thì chúng tôi lựa chọn cách thứ nhất là phân kỳ theo tiến trình lịch sử, vì nếu làm theo cách thứ hai, thì do các trường phái triết học ở Việt Nam không thật sự rõ ràng, sẽ có khả năng một số nhà tư tưởng không thể xếp vào bất kỳ một trường phái nào; hoặc nếu làm theo cách thứ ba thì rất dễ bó buộc triết học Việt Nam vào trong khuôn khổ hay cách định nghĩa của triết học phương Tây, không thể hiện đúng bản chất của tư tưởng triết học dân tộc. Phần lớn các bộ lịch sử triết học lớn của các nước cũng sử dụng cách phân kỳ theo lịch sử, ví dụ như bộ A History of Philosophy của Frederick Copleston, hay các bộ Lịch sử triết học Trung Quốc của Hồ Thích, Phùng Hữu Lan, Lao Tư Quang... Tất nhiên, để khắc phục được nhược điểm của cách phân kỳ này (các giai đoạn lịch sử nhiều khi không trùng với logic phát triển tự thân của lịch sử triết học, tính chất kể lể trong trình bày, sắp xếp một số tác gia đúng với thời đại của họ, không nổi bật các hệ vấn đề...) cũng hoàn toàn không đơn giản.

    Vậy phân kỳ lịch sử tư tưởng triết học Việt Nam theo tiến trình lịch sử như thế nào? Chúng tôi quan niệm không có một tiêu chí duy nhất để phân kỳ theo tiến trình lịch sử. Phân kỳ lịch sử triết học không thể tách rời những sự kiện chính trị trọng đại, triết học Việt Nam không thể tách rời vận mệnh dân tộc, không thể không gắn chặt với các biến cố quan trọng của xã hội, của đất nước. Phân kỳ trong lịch sử triết học phương Tây cũng có chiều hướng như vậy. Cách phân kỳ chủ yếu của lịch sử triết học phương Tây là căn cứ theo sự phân kỳ lịch sử và các biến cố chính trị trọng đại của xã hội: ví dụ trong cách phân kỳ tiêu biểu là từ triết học Hy Lạp sang Triết học La Mã, Triết học Trung cổ, triết học Phục hưng, Triết học Khai sáng, Triết học thế kỷ XIX, Triết học thế kỷ XX, thì “Triết học Phục hưng” và “Triết học Khai sáng” chính là trực tiếp dùng các phong trào chính trị để đặt tên cho các giai đoạn triết học, và các giai đoạn còn lại là dùng phương pháp phân kỳ từng giai đoạn lịch sử, hoặc căn cứ theo đơn vị từng thế kỷ. Với ví dụ về lịch sử triết học phương Tây, có thể suy ra không thể chỉ sử dụng một căn cứ hay một tiêu chí duy nhất để phân kỳ lịch sử triết học Việt Nam, dù căn cứ hay tiêu chí đó là “thời đại”, “triều đại”, “phương thức sản xuất”, “hình thái kinh tế xã hội”, “mô hình chính trị”, “ý thức hệ chính thống” hay “hệ tư tưởng thống trị”... Nếu để hợp lý về mặt logic hình thức mà sử dụng một cách phân kỳ dựa trên một tiêu chí thì vô hình trung sẽ biến lịch sử tự nó thành lịch sử chủ quan, mất đi tính lịch sử cụ thể là nguyên tắc phương pháp luận của công trình được xác định từ đầu. Chính vì vậy, có thể sử dụng cùng lúc nhiều tiêu chí trong quá trình phân kỳ, miễn là với sự phân kỳ như vậy, tư tưởng triết học Việt Nam được thể hiện một cách đầy đủ nhất (trọn vẹn, hệ thống) và nổi bật nhất (với các đặc trưng). Để đáp ứng được yêu cầu này, cần lưu ý ít nhất ba điểm: Một là, mặc dù phân kỳ dựa theo biên niên sử, song không sử dụng một biến cố chính trị nằm ngoài hoặc không có quan hệ với logic phát triển tự thân của triết học; Hai là, mặc dù phân kỳ, song không cắt rời hoàn toàn từng giai đoạn, vì lịch sử tư tưởng, lịch sử triết học là phát triển liên tục (ví dụ Nguyễn Du vừa có thể xếp vào tư tưởng Nho giáo, vừa có thể xếp vào tư tưởng Phật giáo; hay Phan Bội Châu vừa có thể xếp vào triết học phục cổ Nho giáo, vừa có thể xếp vào triết học cách mạng); Ba là, cần nhấn mạnh đến sự kế thừa, phê phán và phát triển giữa các tác gia, các trường phái và các giai đoạn trong một thời kỳ hay giữa các thời kỳ, vì có như vậy mới góp phần chứng minh được rằng các tư tưởng triết học đó xuất phát từ chính bản thân cuộc sống, từ yêu cầu của dân tộc, chứ không phải là sự vay mượn từ bên ngoài, mặc dù có thể hệ thống khái niệm hay quan điểm được du nhập từ bên ngoài. Chính vì những lý do trên mà cuốn sách được phân kỳ theo tiến trình lịch sử, song để phản ánh rõ nét nhất tinh thần thời đại thì trong chương 1 và chương 2, chúng tôi lựa chọn cách tiếp cận và trình bày theo vấn đề, chứ không trình bày theo từng tác gia giống như ở các chương sau. Bản thân tính chất và số lượng tư liệu của giai đoạn trước thế kỷ XV còn sót lại cũng không cho phép chúng tôi trình bày theo từng nhà tư tưởng.
     
    Đang tải...

Chia sẻ trang này