Tham khảo TẢN MẠN KINH NGHIỆM HỌC CHỮ HÁN CỔ

Tin đăng trong 'Tủ sách học ngoại ngữ | Language study forums' bởi admin, Cập nhật cuối: 13/03/2019.

  1. admin

    admin Administrator Staff Member

    Tham gia :
    16/04/2018
    Bài viết:
    6.660
    Lượt thích:
    6
    Điểm thành tích:
    58.414
    TẢN MẠN KINH NGHIỆM HỌC CHỮ HÁN CỔ
    Tôi chọn lối “tản mạn” để không bị ràng buộc phải theo một bố cục chặt chẽ khi trình bày một số vấn đề liên quan. Nói tới học chữ Hán, với một người mới chỉ có ý thích và ý định thôi nhưng thực tế chưa từng học qua thì tâm lý chung thường dẫn họ đến mấy câu hỏi đầu tiên đại loại như: chữ Hán với chữ Nho và chữ Nôm có gì giống và khác nhau, học chữ Hán dễ hay khó, học chừng bao lâu thì đạt được kết quả như mong muốn, có thể tự học được không hay bắt buộc phải có thầy dạy?...

    Trước hết có thể xác định: Học chữ Hán, nếu là chữ Hán cổ với tính cách là một tử ngữ, học để nghiên cứu, đọc sách, viết hoặc dịch thuật… thì có thể tự học được. Học Hán ngữ hiện đại (tức tiếng Phổ thông hay Bạch thoại) nếu cũng chỉ nhằm vào những mục đích tương tự như trên mà không nhằm giao dịch bằng lời nói thì cũng có thể tự học. Trái lại, nếu học Hán ngữ hiện đại với tính chất nó là một sinh ngữ dùng để đàm thoại trong giao dịch thông thường hoặc làm ăn mua bán thì thường thường, nếu không muốn nói nhất thiết, phải có thầy dạy, và những lớp dạy Hoa ngữ như vậy hiện nay đang có khắp nơi trong cả nước, ai muốn học cũng đều có thể ghi danh để học một cách dễ dàng.

    Trước hết, để nói cho người chưa nhập môn, chúng ta nên phân biệt Hán cổ và Hán hiện đại, mà người ta còn gọi là Văn ngôn và Bạch thoại. Đây là hai thể văn của người Trung Quốc, trong đó Bạch thoại còn gọi Ngữ thể là thể văn viết theo tiếng nói thực tế ngoài xã hội, còn Văn ngôn hay Cổ văn (hay Hán cổ) là loại bút ngữ chỉ dùng trong việc biên chép hoặc trứ thuật thời trước. Ngày nay, Văn ngôn đã trở thành một tử ngữ chỉ dùng cho việc nghiên cứu văn hóa lịch sử của các triều đại, mà người Trung Quốc nếu không được dạy thêm cũng không thể viết hoặc đọc hiểu. Do vậy, ngay tại đất nguồn, người Trung Quốc cũng phải học cổ văn gần giống như học một ngoại ngữ, hoặc như người Việt học Hán cổ (chỉ khác về cách phát âm), mới có thể tiếp cận - thưởng thức được các công trình của tổ tiên họ. Rất nhiều sách dạy cổ văn từ bậc tiểu học đến bậc đại học đã được xuất bản, phổ biến tại Trung Quốc (kể cả lãnh thổ Đài Loan). Hầu hết các sách Hán cổ của họ đều đã được dịch ra và chú giải bằng Bạch thoại (Hán ngữ hiện đại), gọi là “ngôn văn đối chiếu”, hoặc “dịch chú”, “đối dịch”, “thông dịch”, “tân dịch” (bản dịch mới)…, giúp thế hệ con cháu đọc hiểu được tư tưởng của tiền nhân trong các sách cổ Thi kinh, Luận ngữ, Lão Tử, Trang Tử, Cổ văn quan chỉ, Đường thi tam bách thủ, Tam tự kinh, Thiên tự văn… Cũng nhờ vậy mà người Việt Nam chúng ta ngày nay cũng dùng “ké” vào được, điều đó có nghĩa một người thông thạo Trung văn (Hán ngữ hiện đại) mà chưa rành cổ văn cũng có thể tham khảo đọc hiểu được các bản cổ văn đã được chuyển dịch sang Bạch thoại.

    Văn ngôn tương đương với cái mà chúng ta gọi chữ Nho. Ngày xưa các cụ học chữ Nho là để đọc sách thánh hiền chứ không để nói, khi gặp một người Trung Hoa có học vấn, hai bên có thể “bút đàm” với nhau, như trường hợp cụ Phan Bội Châu thời xưa khi qua gặp Lương Khải Siêu (Trung Quốc) hoặc Khuyển Dưỡng Nghị (Nhật Bản) cũng phải giải quyết trở ngại ngôn ngữ bằng kiểu đó. Đây cũng là khía cạnh độc đáo của chữ Hán cổ, một loại chữ viết - văn viết chứ không để nói, mà thứ chữ đó đầu tiên được cấu tạo bằng các lối tượng hình, hội ý…, không ghi lại theo âm thanh của tiếng nói như trong trường hợp chữ Nôm ghi âm đọc tiếng Việt, hoặc các ký tự Latinh ghi âm đọc của chữ Pháp, chữ Quốc ngữ...

    Lại nói về chữ Nôm và Hán Nôm. Chúng ta thường gặp nhiều người đã có trình độ học vấn phổ thông rồi nhưng vẫn chưa phân biệt được chỗ khác nhau giữa chữ Hán với chữ Nôm, và Hán Nôm khác với Hán ngữ nói chung như thế nào. Họ không hiểu rõ chữ Hán là chữ của dân tộc Hán tức người Trung Hoa, được viết bằng những nét “ngoằn ngoèo rối rắm” nhưng trông vào thì có vẻ đẹp hấp dẫn, còn chữ Nôm chính là một loại chữ Việt cổ, mượn nét của chữ Hán và phép cấu tạo hài thanh của nó để ghi thanh âm tiếng Việt, như khi Nguyễn Du làm câu thơ đầu truyện Kiều “Trăm năm trong cõi người ta” thì phải viết toàn chữ Nôm (chữ Việt cổ). Trong khi đó, nếu chữ Hán thì “trăm năm” phải nói “bách niên”, “bách tuế”…, “trong” là “trung”, còn “cõi người ta” là “nhân gian”, “nhân sinh”… chẳng hạn. Câu thơ trên khi Hoàng Dật Cầu (Trung Quốc) chuyển truyện Kiều sang chữ Hán, phải dịch là “nhân sinh bất mãn bách” 人生不滿百, là chỉ dịch thoát. Chữ (trăm) trong chữ Nôm được tạo nên bằng chữ 百(bách) ở trên là trăm để chỉ ý nghĩa, và chữ 林 (lâm) ở dưới để chỉ âm đọc, cũng là một lối chữ hình thanh…, có cách cấu tạo tương tự chữ Hán.

    Do chữ Nôm cấu tạo bằng những nét và thể thức của chữ Hán nên phải biết chữ Hán kha khá trước rồi mới có thể học qua chữ Nôm được.

    Còn Hán Nôm là gì? Hán Nôm thường để gọi gộp chung chữ Hán và chữ Nôm, đồng thời cũng chỉ vào những thư tịch cổ của người Việt Nam viết bằng chữ Hán, như các sách Khâm định Việt sử (Quốc sử quán triều Nguyễn), Hải Thượng y tông tâm lĩnh (Lê Hữu Trác), Hoạt nhân toát yếu (Hoàng Đôn Hòa), Hoàng Việt văn tuyển (Bùi Huy Bích), Thượng Sĩ ngữ lục, Thiền uyển tập anh ngữ lục (đời Trần), … hoặc những truyện Nôm, thơ Nôm, văn cúng viết bằng chữ Nôm…, đều là nằm chung trong kho tàng Hán Nôm của người Việt. Về mặt từ vựng và ngữ pháp, khi người Việt xưa sử dụng chữ Hán (mượn của Tàu) để diễn đạt những vấn đề và sự vật của nước mình, đã phải sáng tạo ra một số từ ngữ mà Trung Quốc không có, như nói “ngưu lao” 牛牢 là trâu bò, “cao” 高 là sào (đơn vị đo ruộng), “tượng phường binh” 象坊兵 là lính giữ voi, “kiên thán” 堅炭 là than đá, “nam trân” 南珍 là trái loòng boong…, đều là những từ ngữ không tìm thấy trong bất kỳ từ điển nào của người Trung Quốc. Một số từ Hán Việt hiện đại như “hoa hậu”, “hải phận”… cũng không có trong kho từ vựng của Trung Quốc. Về ngữ pháp, một số hư từ đã được dùng riêng theo lối Việt Nam như “hồ nhi” là (sao mà), “tồn như” (còn như)… cũng không thấy trong tiếng Hán chính thức của người Hán.

    Còn về ngữ âm, thì người Trung Quốc đọc chữ Hán theo âm của họ (khác nhau tùy theo địa phương), người Việt đọc theo âm Hán Việt, như hai chữ 天地(trời đất) đọc theo âm Quảng Đông là “thín tì”, theo âm Bắc Kinh là “thí - ến tí”, đọc theo âm Hán Việt là “thiên địa”; chữ 三(ba) âm Quảng Đông đọc “xám”, âm Bắc Kinh đọc “sán”, âm Hán Việt đọc “tam”… Như vậy dù đọc theo âm nào, ở đâu, ai biết chữ nhìn vào chữ 三(tam) cũng biết ý nghĩa nó là “ba” (số lớn hơn 2, nhỏ hơn 4).

    Cách đọc Hán Việt thường được hiểu đơn giản là cách đọc chữ Hán ở Việt Nam, bằng lối đọc riêng của người Việt. Theo các nhà nghiên cứu, cách đọc này bắt nguồn từ hệ thống ngữ âm tiếng Hán thời Đường, cụ thể là Đường âm dạy ở Giao Châu vào khoảng thế kỷ VIII - IX, nhưng dần dần có sự biến đổi theo quy luật ngữ âm tiếng Việt để trở thành một cách đọc riêng biệt của người Việt… (xem Nguyễn Tài Cẩn, Nguồn gốc và quá trình hình thành cách đọc Hán Việt, NXB Khoa Học Xã Hội, Hà Nội, 1979, tr. 14 - 15).

    Chữ Hán cổ đọc theo âm Hán Việt (tức chữ Nho) từ khá lâu đã trở thành một tử ngữ nhưng nó vẫn giữ vai trò rất quan trọng vì trong tiếng Việt hiện đại, có đến 50 - 70 % từ ngữ gốc Hán. Nếu không am hiểu chữ Hán sẽ rất khó hiểu đầy đủ và vận dụng tiếng Việt một cách chính xác, thuần nhã. Ngoài ra, để đi sâu nghiên cứu văn hóa - lịch sử cổ của Việt Nam, cũng như để thưởng thức được những danh tác thơ, văn, triết lý của cả Trung Quốc lẫn Việt Nam vốn chứa đựng nhiều tinh hoa tư tưởng phương Đông rất thâm trầm sâu sắc liên quan đến mọi lĩnh vực của đời sống, nếu không biết chữ Hán thì cũng khó đi vào, đừng nói chi thâm nhập. Nói như ông Dương Ngọc Dũng có vẻ khẳng định nhưng không xa sự thật là mấy: “Đối với người Việt Nam học triết phương Đông đồng nghĩa với học tiếng Tàu mà tiếng Hán cổ thì khó quá. Ngay cả người Trung Quốc còn phải than tiếng Hán cổ là khó huống hồ là người Việt… Nếu chỉ cần đọc chơi cho biết thì không nói làm gì chứ thực sự muốn nghiên cứu dài hơi thì không thể không vượt qua khâu học tiếng Hán… Khó thì khó thật nhưng phần thưởng thật là lớn lao, xứng đáng. Không có niềm vui sướng nào lớn hơn khi nhìn thấy qua những nét bút ngoằn ngoèo phức tạp cả một thế giới ý nghĩa từ từ hiện ra. Có lẽ đó chính là niềm thích thú của những người học cổ văn. Đối với kẻ khác đó là một kho tàng bí mật mà chìa khóa đã bị quăng mất, nhưng đối với người am hiểu, kho tàng mở ra với bao nhiêu điều thú vị, những điều mà ngay cả một bản dịch tốt nhất cũng chỉ là những tiếp cận nhạt nhẽo không có sức sống, không có linh hồn…” (Đường vào triết học, NXB Tổng Hợp Thành Phố Hồ Chí Minh, 2006, tr. 58).

    Trước năm 1975, ở miền Nam, theo chương trình giáo dục chính quy, chữ Hán cổ được dạy mỗi tuần một giờ ở bậc trung học, nhưng ít có trường nào thực hiện đúng vì thiếu giáo viên và cũng vì ít có giá trị thực dụng hơn so với tiếng Anh, tiếng Pháp, tuy nhiên lúc đó người ta vẫn duy trì ban D là ban cổ ngữ ở cấp thi tú tài I và tú tài II để thí sinh có thể tùy chọn giữa hai môn Hán cổ và cổ ngữ Latinh. Trên thực tế, chữ Hán chỉ được dạy chính thức ở các khoa Văn, Sử, Triết của bậc đại học (mỗi tuần vài giờ), hoặc trong một lớp chuyên tu Hán Nôm nào đó, và ở một số chùa chiền, còn phần lớn là học trong các sách tự học. Mà những người có cơ may học trong trường lớp, nếu không đeo đuổi tự học thêm thì sau một thời gian bao nhiêu chữ cũng trả lại hết cho thầy, đến đọc một đôi câu đối hoặc dòng chữ Hán trong toa thuốc Bắc cũng không hiểu nổi!

    Như trên đã nói, chữ Hán cổ hoàn toàn có thể tự học được, mặc dù nếu có thầy dạy thì vẫn tốt hơn. Theo sự hiểu biết của tôi thì một số cụ tiền bối giỏi Hán cổ như Phạm Quỳnh, Đào Duy Anh, Nguyễn Hiến Lê, Phạm Tất Đắc, Phùng Tất Đắc (Lãng Nhân)… đều là những người chủ yếu tự học. Thế hệ bây giờ vẫn tiếp nối có những dịch giả tương đối trẻ với nhiều công trình nghiên cứu - dịch thuật khá giá trị như Lý Việt Dũng, An Chi (Võ Thiện Hoa), Nguyễn Tôn Nhan, Lê Anh Minh, Phạm Hoàng Quân…, đều do tự học mà đạt được những thành tích rất đáng trân trọng.

    Trong khoảng 50 - 60 năm trở lại đây, khi Hán học suy tàn, sách tự học chữ Hán trái lại được xuất bản lần lượt khá nhiều, như một cách để cứu vãn tình thế, còn trước đó nữa thì hầu như không có sách tự học. Truy lại khoảng những năm 40 của thế kỷ trước, chúng ta được biết, ngoài những cuốn như Nhất thiên tự, Tam thiên tự, Ngũ thiên tự, Minh tâm bảo giám… được một số dịch giả (có lẽ Trương Vĩnh Ký là đầu tiên) đem ra phiên âm, dịch nghĩa, còn thì loe hoe chỉ có mấy cuốn đáng gọi “tự học” như Hán tự tự học của Nguyễn Xuân Lâm (1942), Hán học tiệp kính và Hán văn quy tắc của Nguyễn Di Luân - Trần Quốc Trinh (cuốn sau, thư viện chùa Huệ Quang mới sưu tầm được), Hán văn tự học (sau đổi thành Nho văn giáo khoa toàn thư) của Nguyễn Văn Ba, Hán tự tân phương của Tạ Quang Phát … Để bổ sung, người tự học đôi khi phải tìm thêm những sách dạy, nhất là về ngữ pháp, của một số tác giả người Pháp như Cordier, Margouliès, Wieger, Ramusat… nhưng phần lớn những sách này đều biên soạn rất sơ sài. Tại miền Nam trước năm 1975, còn có nhiều sách tự học chữ Hán của một số tác giả khác như Võ Như Nguyện - Võ Hồng Giao, Lưu Khôn, Nguyễn Khuê, Trần Trọng San, Trần Văn Quế, Huỳnh Minh Đức, Đào Mộng Nam…, mỗi cuốn đều có ưu khuyết điểm riêng và cuốn nào dùng cũng lợi ích, nhưng riêng tôi thích nhất bộ Hán văn của Trần Trọng San (NXB Thành Phố Hồ Chí Minh có tái bản lần I năm 1996), chủ yếu lấy các bài khóa từ bộ Tân quốc văn của Trung Quốc làm giáo trình, nhưng biên soạn cẩn thận, trình bày sáng sủa ngắn gọn mà có phương pháp, lại có thêm phần văn phạm (ngữ pháp) và văn tuyển. Học hết quyển đó có thể bắt đầu đọc gần hiểu được những sách thông thường viết bằng cổ văn, với điều kiện là phải chịu khó tra thêm những chữ khó chưa biết.

    Trong suốt thời gian 50 - 70 năm, góp thêm vào việc tự học chữ Hán cổ, phải kể đến hai bộ tự - từ điển gồm Hán Việt từ điển của Đào Duy Anh (1931) và Hán Việt tự điển của Thiều Chửu (1942). Hai bộ này tuy còn không ít khuyết điểm nhưng đều có công rất lớn cho việc tự học chữ Hán của người Việt Nam trong suốt mấy mươi năm dài. Riêng cuốn của Thiều Chửu, nhờ có số tự nhiều hơn và chứa đựng nhiều từ ngữ Phật giáo nên được các nhà sư dùng nhiều, đến nay vẫn còn hữu dụng và được biên tập lại cho hợp lý hơn để tái bản nhiều lần.

    Nói “Hán học suy tàn”, nhưng càng về sau, sách dạy chữ Hán cả cổ lẫn hiện đại đều xuất hiện mỗi ngày một thêm nhiều, hoặc soạn mới, hoặc được tái bản từ những sách cũ trước đây. Riêng sách tự học Hán cổ, có những sách như Giáo trình Hán văn của Chu Thiên (do nhóm biên tập Bùi Xuân Trường - Lạc Thiện - Nguyễn Thịnh thực hiện, NXB Thành Phố Hồ Chí Minh, 2002), Toàn thư tự học chữ Hán của Trần Văn Chánh - Lê Anh Minh…; cuốn sau này nhờ biên soạn sau nên gom góp tham khảo được một số ưu điểm của những người đi trước và hiện cũng đang được dùng khá phổ biến. Về ngữ pháp, có những sách của Phạm Tất Đắc, Trần Văn Chánh, và một cuốn gọn hơn, Ngữ pháp Hán văn của nhà sư Thích Tuệ Dũng dùng thích hợp cho các tu sĩ Phật giáo. Về hư từ, có những sách của Trần Thước, Trần Văn Chánh… Riêng về từ điển Hán Việt (không kể của Đào Duy Anh và Thiều Chửu) thì có khá nhiều, người học có thể tự chọn một quyển nào thích hợp cho hoàn cảnh mua sắm và mục đích học tập của mình.

    Ai biết tiếng Anh, có thể tìm thêm mấy cuốn sau đây, biên soạn rất tốt:

    - J. Brandt, Introduction to Literary Chinese, Ederick Ungar Publishing Company, New York.

    - Harold Shadick, A First Course in Literary Chinese, Cornell University Press, Ithaca and London, 1992.

    - Gregory Chiang, Language of the Dragon, Cheng and Tsui Company, USA, 1998.

    Chuyên về ngữ pháp Hán cổ, nếu có điều kiện, có thể tìm cuốn Outline of Classical Chinese Grammar của Edwin G. Pulleyblank, do UBC Press / Vancouver in năm 2000.

    Như vậy tính ra, với điều kiện mới bây giờ, người tự học chữ Hán có được thuận lợi hơn những lớp người đi trước đến cả chục lần, ấy là còn chưa kể đến những phương tiện hiện đại (nhất là các sách công cụ, từ điển lớn nhỏ, từ điển chuyên dùng đủ loại…) mà chúng ta có thể truy cập bất cứ giờ phút nào trên mạng internet.

    Khi học được một vài trong số những sách đã được giới thiệu trên đây, coi như hết chặng đường đầu, người học tự nhiên sẽ có khả năng tham khảo trực tiếp dần những sách viết bằng chữ Hán xuất bản tại Trung Quốc, và khi đó tha hồ lựa chọn mà chẳng mấy cần phải có ai hướng dẫn, vì nó phong phú vô cùng, hiện có thể tìm được ở hiệu sách Đại Thế Giới (quận 5) hoặc Fahasa Tân Định, và vài hiệu sách tư nhân nhỏ ở góc Triệu Quang Phục - Nguyễn Trãi, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Ở giai đoạn này, bạn có thể đọc vài tiểu thuyết chủ yếu viết bằng Văn ngôn như Tam Quốc chí, Thủy hử, Đông Chu liệt quốc chí…(bán rất nhiều ở mấy hiệu sách tiếng Hoa với giá rất rẻ) để vừa thưởng thức, vừa tự rèn luyện thêm khả năng đọc hiểu Hán cổ. Cụ Nguyễn Hiến Lê khi tự học chữ Hán đến giai đoạn này, đã ghi lại cảm tưởng của mình trong quyển Tự học một nhu cầu thời đại: “Trước bạn học thấy khó nhọc bao nhiêu, thì bây giờ bạn thấy thú bấy nhiêu. Công của bạn đã được đền bù. Không bao giờ tôi quên được những phút say mê, khi mới biết lõm bõm ít chữ Nho, tôi đọc lời bình phẩm Tam Quốc chí của Thánh Thán: Trời thì rét căm, ngọn đèn thì lù mù mà tới 11 giờ khuya tôi vẫn còn ngồi trước cuốn sách. Tôi tưởng ai học chữ Hán cũng được phần thưởng vô giá ấy” (NXB Thanh Tân, Sài Gòn, 1967, tr. 133 - 134).

    Để có thể tham khảo được sách Trung Quốc, người tự học trước đó cũng nên tự học qua văn Bạch thoại, bằng cách tìm hiểu các từ ngữ và ngữ pháp riêng của tiếng Hán hiện đại (khác nhiều với Hán cổ), và như thế trong tủ sách cũng không thể thiếu một bộ từ điển tiếng Hán hiện đại đáng tin cậy mà mình có thể lựa chọn thoải mái ở các hiệu sách với giá không cao lắm. Như vậy, để vừa học thêm cổ văn, đọc được các tác phẩm cổ từ Tứ thư Ngũ kinh đến bách gia chư tử… thông qua các bản dịch Bạch thoại, vừa có thể đọc được sách báo hiện đại của Trung Quốc.

    Ngoài ra trong nhà cũng nên có sẵn một số bản dịch tiếng Việt các tác phẩm kinh điển, để vừa đọc vừa học, như Thi kinh (các bản dịch của Tản Đà, Tạ Quang Phát, Nguyễn Thị Hảo…), Luận ngữ (các bản dịch của Đoàn Trung Còn, Lê Phục Thiện, Nguyễn Hiến Lê…), Đại học (các bản dịch của Đoàn Trung Còn, Tạ Thanh Bạch…), Trung dung (các bản dịch của Đoàn Trung Còn, Phan Khoang, Tạ Thanh Bạch…), Mạnh Tử (của Nguyễn Đôn Phục - Nguyễn Hữu Tiến…), Lão Tử (các bản dịch của Nghiêm Toản, Nguyễn Duy Cần, Phan Ngọc…), Đường thi (các bản dịch của Tản Đà, Ngô Tất Tố, Trần Trọng Kim, Trần Trọng San, Lê Nguyễn Lưu…), Cổ văn (tức Cổ văn quan chỉ, các bản dịch của Nguyễn Hiến Lê, Hoàng Khôi…), Sử ký Tư Mã Thiên (các bản dịch của Nguyễn Hiến Lê, Nhữ Thành…). Một số loại sách đặc biệt khó đọc như Văn tâm điêu long của Lưu Hiệp… thì người đọc nhất thiết phải tham khảo bản dịch sang Bạch thoại của Trung Quốc hoặc sang tiếng Việt (như của Nguyễn Thị Hảo), mới có thể hiểu được, vì đối với loại sách này, các học giả phần lớn phải khảo từng câu từng chữ để khám phá các ý nghĩa, chứ không ai đọc ron rót được.

    Ở Trung Quốc, có khá nhiều sách công cụ để tra cứu riêng cho từng thể loại văn cổ, như có những sách tra riêng cho tiểu thuyết, thơ Đường, nhân danh, địa danh… Tự điển, từ điển Hán cổ phổ thông thì nên có ít nhất 3 bộ, trước đây thông dụng là Khang Hi tự điển, Từ nguyên, Từ hải, còn bây giờ có thể chỉ cần Hán ngữ đại tự điển, Hán ngữ đại từ điển và một bộ Từ hải là đủ. Bộ sau cùng vừa có tính ngôn ngữ vừa có tính bách khoa, còn hai quyển đầu tính cho đến hôm nay vẫn là công trình từ thư quốc gia lớn nhất của người Trung Quốc, nhưng nếu chưa có nhu cầu gì lớn, có thể chỉ cần mua bản rút gọn hay bản phổ cập (“súc ấn bản”, “phổ cập bản”) cho rẻ (cách nay mấy năm, giá ở các hiệu sách chừng 500 - 600 ngàn đồng).

    Muốn đọc được chữ Hán theo lối phiên thiết, nên có bộ Khang Hi hoặc Từ hải bản in cũ (vì ấn bản mới, phần chú âm phiên thiết đã bị loại bỏ), nhưng nếu có cơ hội, nên tìm bộ Vương Lực Cổ Hán ngữ tự điển (Trung Hoa Thư Cục, 2000), trong đó phần chú âm phiên thiết rất rõ ràng mạch lạc. Về Hán ngữ cận đại, tức những từ ngữ xuất hiện từ khoảng Đường, Tống trở về sau, nên tham khảo quyển Cận đại Hán ngữ Từ điển của Tri Thức Xuất Bản Xã in năm 1992, hơi khó tìm, nhưng tôi được biết tại thư viện Tu viện Huệ Quang hiện có giữ được bản photo.

    Nên nhớ, mỗi loại sách đều có đặc điểm ngôn ngữ và phong cách diễn đạt riêng, ai “chuyên trị” lĩnh vực nào thì chỉ quen đọc hiểu sành hơn trong lĩnh vực đó. Về Hán cổ mà thuộc Hán Nôm, nên tìm cho được bộ Cơ sở ngữ văn Hán Nôm do Lê Trí Viễn chủ biên, gồm 4 tập (NXB Giáo Dục, 1984 - 1987), trong đó riêng tập 4 có giới thiệu một số thể loại Hán văn đặc thù như Văn bia, Thần tích, Sắc, Luật lệ, Bằng, Trát, Bẩm, Biên từ, Đơn, Văn tự, Chúc thư, Gia phả, Văn cúng… của Việt Nam, mà nếu chỉ học cổ văn thông thường thì chúng ta không thể đọc hiểu chúng một cách chính xác.

    Riêng đối với các kinh luận, Phật thư, nó là một loại ngôn ngữ pha trộn giữa Hán cổ với cận đại (một thứ Bạch thoại cổ), có pha lẫn nhiều từ phiên âm gốc Phạn ngữ nên đọc ra thấy khác hẳn kinh truyện của Nho gia, đặc biệt là những tập ngữ lục của thiền sư Trung Hoa, Việt Nam. Khác về từ vựng lẫn ngữ pháp, như kiểu cấu trúc “hành thâm” thay vì “thâm hành” trong Bát nhã Ba la mật đa Tâm kinh, “như thị ngã văn” thay vì “ngã văn như thị” của hầu hết các kinh… Để đọc hiểu kinh Phật, chúng ta còn nên tham khảo thêm các loại từ điển riêng của Phật giáo. Ở Việt Nam ngoài bộ của Đoàn Trung Còn thông dụng đã lâu, hiện còn có thêm những bộ mới khác như Từ điển Phật học Hán Việt của Kim Cương Tử (chủ biên), Từ điển Phật học của Chân Nguyên & Nguyễn Tường Bách, Từ điển Phật học Huệ Quang (6 quyển, do Thích Minh Cảnh chủ biên), Phật Quang Đại từ điển (8 quyển) do Thích Quảng Độ dịch. Hai bộ sau cùng đầy đủ nhất, nhưng giá mua hơi cao (đều trên dưới 3 triệu đồng). Đặc biệt, nếu muốn đọc hiểu những thư tịch của Thiền Tông, chúng ta nên có thêm bộ Từ điển Thiền tông Hán Việt do Hân Mẫn & Thích Thông Thiền dịch, trong đó chứa đựng rất nhiều đặc ngữ của Thiền Tông, khác hẳn với ngôn ngữ cổ thông thường và cũng không giống với Hán ngữ hiện đại. Ngoài ra, người học khi đã ở trình độ kha khá, có thể tham khảo thêm những kinh điển Phật giáo của người Trung Quốc dịch ra Bạch thoại, trong đó có những lời chú giải khá kỹ cho những chỗ dùng đặc biệt về ngữ nghĩa và ngữ pháp, đại khái như các sách Phật giáo nhập môn Tam tự kinh (Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xã, 2002), Phật học Văn học Túy biên (Thượng Hải Cổ Tịch Xuất Bản Xã, 1999)…

    Khi mới “nhập môn” bạn có thể dùng bất cứ loại sách tự học nào như đã kể trên kia. Trong các sách này, các tác giả phần lớn đều giới thiệu qua một số khái niệm và tri thức cơ bản, như 6 phép cấu tạo chữ Hán (gọi là Lục thư), giới thiệu 214 bộ chữ Hán truyền thống (các từ điển mới về sau đã có cải cách, nên không còn đúng 214 bộ nữa), chữ Hán phồn thể (viết đủ nét) và giản thể (viết rút gọn), cách tra và đọc chữ Hán trong các loại từ điển (theo bộ, theo số nét, theo tứ giác hiệu mã…), cách viết chữ Hán (theo lối “bút thuận”)…. Việc nắm vững 6 phép cấu tạo, cũng như học thuộc từ từ 214 bộ chữ Hán có ý nghĩa rất quan trọng, vì tuy nói chữ Hán “ngoằn ngoèo phức tạp” nhưng thật ra chúng cũng có quy củ nhất định. Nếu hiểu được 6 cách cấu tạo và thuộc được dần dần các bộ chữ Hán (tương đương như 214 chữ cái), chúng ta đã nắm được cái chìa khóa đầu tiên để đọc và nhớ được chữ Hán một cách không khó khăn lắm. Ngoài ra ta còn có thể căn cứ vào đó để đoán nghĩa tổng quát cho một số chữ Hán mới gặp. Chẳng hạn đã biết chữ 同đọc là “đồng” (cùng, cùng nhau), thì có thể đoán ra các chữ 桐, 筒, 銅 cũng đọc “đồng” nhưng chữ thứ nhất viết bộ “mộc” 木thì có nghĩa liên quan đến cây cối (cây ngô đồng), chữ thứ hai viết bộ “trúc” 竹nên có nghĩa là cái ống, còn chữ thứ ba viết bộ “kim” 金nên có thể hiểu là một thứ kim loại có tên “đồng”. Chữ “tiêm” 尖(nhọn) cấu tạo theo phép hội ý gồm chữ “đại” dưới, chữ “tiểu” trên, bởi vật gì trên nhỏ dưới lớn tất phải nhọn…

    Muốn đọc được những chữ Hán lạ nhưng chưa được ghi trong các từ điển Hán Việt đã xuất bản, ta lại phải học thêm cách đọc phiên thiết, mà tôi đã có dịp trình bày trong bài “Đọc chữ Hán bằng phương pháp phiên thiết” in trong sách Suối Nguồn tập 1 (tháng 5.2011).

    Đến đây, chúng ta vẫn chưa trả lời hai câu hỏi học chữ Hán dễ hay khó, học chừng bao lâu… là những câu hỏi mà bất kỳ ai đang có ý định học cũng nôn nóng muốn biết.

    Ở đây xin mượn kinh nghiệm của nhà văn hóa - học giả Nguyễn Hiến Lê (mà ông tự đánh giá là chỉ có trình độ thông minh trung bình như phần đông mọi người), kể lại trong cuốn Tự học một nhu cầu thời đại mà tôi đã có dẫn trên kia. Ông học trong 4 vụ hè, mỗi vụ chừng 1 tháng thì đạt được số vốn chừng 1.000 chữ. Rồi học thêm 4 tháng nữa, mỗi ngày ít nhất 9 giờ và dụng ngữ học được tăng lên khoảng 3.000 chữ, cộng là 4.000. Lúc đó, nghĩa là sau 8 tháng học có gián đoạn, ông đã bắt đầu đọc Tam Quốc chí trong bản chữ Hán được. “Cuốn này văn rất giản dị, tôi lại biết truyện rồi, mà đọc cũng chỉ hiểu sáu phần mười mà thôi. Vậy một người thông minh trung bình học liên tiếp 6 tháng, mỗi ngày 7 - 8 giờ thì thuộc được độ 4.000 tiếng, tạm đủ để đọc những sách Nho thông thường” (sđd, tr. 125).

    Theo kinh nghiệm cụ Nguyễn Hiến Lê, nên chia đoạn đường dài ra làm nhiều chặng cho đỡ ngán, chẳng hạn khi chưa biết một chữ Hán nào, nên lập chặng đầu (từ 3 tới 6 tháng tùy theo thì giờ rảnh), học chừng 1.000 chữ và chút ít ngữ pháp. Chặng thứ nhì học thêm 1.500 chữ nữa và nhiều ngữ pháp (cũng từ 3 tới 6 tháng vì lúc này học đã dễ hơn trước rồi). Nhưng muốn thông chữ Hán thì còn phải học thêm nhiều nữa, phải nhớ điển tích, thuộc cổ văn và học lối chữ thảo (chữ viết tháu, tức thảo thư). “Những bạn nào muốn học chữ Nho mà còn do dự hãy mạnh bạo tiến đi! Dù chẳng tới nơi tới chốn thì ít nhất cũng thuộc được ít ngàn chữ thông thường. Một người Việt Nam có học thức không thể thiếu cái gốc chữ Hán ấy được” (sđd, tr. 135).

    Tác giả Nguyễn Hiến Lê còn nêu thêm kinh nghiệm dùng thẻ để học chữ Hán, mỗi thẻ dùng cho một chữ, như học về chữ 梅(mai) thì ghi trên thẻ: 梅và số nét: 11; tên bộ 木và số nét: 4; cách đọc; những nghĩa của nó; những từ ngữ có chữ “mai”; những nhận xét riêng về chữ ấy, chẳng hạn nên phân biệt nó với chữ 海, vì cả hai đều có bộ phận chữ 每(mỗi) ở bên… Khi học được 3.000 - 4.000 chữ sẽ có được 3.000 - 4.000 thẻ, nếu sắp lại theo bộ sẽ có một bộ từ điển để dùng riêng, rất thích thú vì đó là kết quả công phu của chính mình…

    Ngoài hai kinh nghiệm chia đoạn đường dài ra làm nhiều chặng, và lối học thẻ, ta không thấy học giả Nguyễn Hiến Lê cung cấp kinh nghiệm gì thêm. Tôi đã thử mở một trang diễn đàn trên mạng (Sachxua.net) nói về phương pháp học tiếng Hoa thế nào cho có hiệu quả, có hàng chục người tham gia đóng góp ý kiến - kinh nghiệm liên quan chữ Hán cổ, nhưng tựu trung cũng chỉ thấy có mấy kinh nghiệm thông thường như sau (ở đây chỉ xin tóm tắt và lấy ý viết lại cho gọn, mỗi gạch đầu dòng là ý kiến của một người):

    - Chịu khó một ngày học một bài trong giáo trình, học cả văn phạm, từ vựng... chịu khó tìm tòi từ nguyên, tại sao nó có nghĩa như vậy, sẽ nhớ được lâu. Học được khoảng 3000 từ thì chịu khó đọc sách tiếng Hoa mỏng mỏng, rồi từ từ dầy lên theo số vốn từ mình học được.

    - Chuyện nhớ chữ à? Vào trang từ nguyên của Richard Sears, cũng có giải nghĩa nhiều chữ. Cứ kiên nhẫn mỗi ngày mỗi học sẽ dễ. Giống như dậy sớm tập thể dục. Dậy được đã khó. Tập mấy ngày đầu thì rêm mình nhức mẩy. Nhưng theo chừng một hai tháng thì quen.

    - Học như thế nào thì hiệu quả, điều đó cũng tùy thuộc vào năng khiếu và điều kiện của từng người: (1) Khuynh hướng của từng người: mỗi người có cách nhớ khác nhau, người thì nhìn và viết hoài sẽ nhớ; người thì phải phân tích tới cội nguồn mới nhớ; có người thích ghi nhớ qua âm thanh, phát âm đi chung với từ thì sẽ nhớ; (2) Hoàn cảnh: có người có nhân duyên tốt, gặp được thầy giỏi sách hay, có tiền mua tài liệu hoặc có thời gian rảnh rỗi đi học, có người thì phải mày mò tự học thiếu những tài liệu hay, không người chỉ dẫn nên bỏ rất nhiều thời gian mà kết quả không cao. Do vậy, phải biết được mình để xác định phương thức hiệu quả nhất

    - Nên học căn bản trước, nắm được sơ sơ về các nguyên tắc của chữ Hán rồi thì cứ ôm Thiều Chửu mà tụng. Có ba điều lưu ý thế này: (1) Không nên học thuộc hết 214 bộ. Học ngoại ngữ nhưng đừng bao giờ có tư tưởng phải học thuộc cái gì. Ngôn ngữ là phải tự nó ngấm vào mình qua quá trình cọ xát, tiếp xúc chứ ép vào đầu nhanh thì nó cũng ra khỏi đầu nhanh. Cụ thể ở đây, chỉ cần nắm được vài chục bộ thủ thường gặp để tra từ điển là đã bao quát được gần hết các chữ cơ bản rồi; (2) Cách tụng Thiều Chửu là chữ nào tiếng Việt mình còn dùng thì học trước. Chính những chữ đó về nghĩa mình cũng đã hiểu sơ sơ rồi, không cần câu nệ từ nguyên nhiều quá. Nên học từ các tác phẩm, tốt nhất là các tác phẩm văn học quen thuộc cho dễ nhớ. Tuy vậy, với đặc thù chữ Hán, nên nắm được nghĩa riêng lẻ và trong tương quan với các chữ khác; (3) Không học theo một giáo trình nào cả mà cứ thấy chữ Hán ở đâu thì mổ xẻ bằng từ điển. Dù sao nó cũng là một tử ngữ rồi, không thể giữ cách học như một sinh ngữ với các bài text khi mà khó có thể gặp lại trong cuộc sống. Chính các câu đối, hoành phi, thơ ca ta gặp mới là giáo trình sinh động và hiệu quả nhất.

    - Phương pháp phân tích ngữ pháp Hán cổ bằng ký hiệu của Thích Minh Thanh (giảng viên môn Hán cổ tại Học viện Phật giáo Việt Nam tại Thành phố Hồ Chí Minh soạn) rất khoa học và dễ hiểu, quen rồi khi nhìn vào sẽ hiểu không cần phải dùng ký hiệu nữa.

    - Tại sao phải học thuộc 214 bộ chữ Hán khi mới nhập môn Hán cổ?: (1) Bộ thủ (部首) là thành phần cốt yếu của từ tiếng Hán, nó đóng vai trò gần như một “bộ chữ cái” trong tiếng Hán. Hầu hết các chữ trong 214 bộ thủ đều là chữ độc thể tự, là những chữ không thể phân tích nhỏ ra được nữa, nếu phân tích ra, các thành phần đều vô nghĩa, vì vậy phải học thuộc bộ thủ; (2) Tại sao phải nhớ? Để tra từ điển, tra tự điển theo bộ có phần dễ dàng hơn là đếm nét, vì đếm thường hay đếm sai. Tự điển Thiều Chửu là quyển tự điển thông dụng nhất mà người ta hay sử dụng khi học Hán cổ; (3) Chiết tự giúp nhớ lâu chữ Hán, đây mới là việc quan trọng. Ví dụ 休: hưu có nghĩa là nghỉ ngơi, thì được ghép từ hai chữ nhân (人) đứng và mộc (木), là việc lấy hình ảnh con người khi làm việc mệt, hoặc đi đường mệt thường tựa vào gốc cây (bộ mộc) để nghỉ, do đó ta có chữ “hưu” là nghỉ; (4) Đoán nghĩa của chữ: khi biết bộ thủ thì một cách tương đối ta có thể đoán được chung chung nghĩa của từ, như thấy bộ “thủy” (水,氵) là biết nghĩa sẽ liên quan đến sông nước, bộ mộc (木) liên quan đến cây cối, bộ tâm (心,忄) liên quan đến tình chí, cảm xúc của con người... Chiết tự xảy ra với cả ba mặt hình - âm - nghĩa của chữ Hán, nhưng chủ yếu là ở hai mặt hình và nghĩa. Chẳng hạn: “Ba xe kéo lê lên đàng, âm vang như sấm, đó là chữ “oanh” 轟”. Chữ “oanh” được viết với ba chữ xa 車và có nghĩa là “tiếng động của nhiều xe cùng chạy” (chiết tự về mặt ý nghĩa)…

    - Thời gian học dài: Người học chữ Trung Quốc phải có nhiều (hai ba) năm mới nhớ được mặt chữ của ba bốn ngàn từ thường dùng; nếu dùng lối tượng thanh thì nhanh và đơn giản hơn; chữ viết phức tạp, nhiều nét: có những chữ trên hai mươi lăm nét. Cái lợi của chữ Trung Hoa cũng hiển nhiên: khi nhớ mặt chữ của một từ thì người học rất khó quên được ý nghĩa của nó, chẳng hạn chữ an (安) gồm nữ (女đàn bà) ở dưới miên (宀 mái nhà) nên có nghĩa là an (an ổn), hoặc chữ minh (明) gồm nhật (日 mặt trời) và nguyệt (月 mặt trăng) nên có nghĩa là sáng. Như vậy mỗi từ của Trung Hoa có tính chất sống động hơn từ của phương Tây và vì vậy đọc một bài thơ Trung Hoa viết bằng chữ Hán thì cảm thấy có ý nghĩa hơn, thú vị hơn khi đọc cũng bài thơ đó phiên âm ra chữ quốc ngữ.

    Đối với những người chưa biết nhiều về chữ Hán, thì thường có một quan niệm sai lầm là họ cứ tưởng chữ Hán rất khó học. Thật ra không hoàn toàn đúng, nếu so sánh với việc học tiếng Anh, thì chữ Hán dễ học hơn. Lý do thật đơn giản vì người học chữ Hán chỉ cần nhớ được 3 ngàn chữ đơn là có thể đọc viết được các loại sách báo và tạp chí, trong khi người học chữ Anh phải cần phải nhớ đến hơn con số đó nhiều...

    - Có lẽ vì món Hán cổ vừa khó, ngữ pháp phiền nhiễu, nhất là... các bản kinh Thư, Luận ngữ, Sở từ... nhiều câu, nhiều đoạn phải tự luận, hoặc đối chiếu với văn cảnh phía trên mới hiểu tàm tạm được…, thế nên chẳng có mấy người học được… Theo tôi, cứ cố gắng đọc, đọc không được, không hiểu văn bản thì đem tới hỏi các bậc cao nhân, tiếp đó, bổ túc thêm kiến thức về âm vận, ngôn ngữ lịch sử nữa (để đọc thêm chữ Nôm, nhất là Nôm thế kỷ XVII về trước).

    - Đọc các văn bản Hán cổ (Văn ngôn) của Tàu như Kinh thư, Luận ngữ, Sở từ..., nên tìm đọc các bản dịch Bạch thoại của chúng trước khi đọc chính văn thì sẽ dễ hiểu hơn (vì hầu hết các văn bản Hán cổ của Tàu đều đã được họ chú thích và dịch sang thể Bạch thoại). Còn về ngữ pháp Văn ngôn, chỉ cần nắm vững bốn hư từ Chi 之 Hồ 乎 Giả 者 Dã 也 là đủ xài rồi. Nắm vững chúng ta sẽ phân tích được câu, mà đã phân tích được câu thì sẽ hiểu được văn bản, còn mức độ hiểu nhiều hay ít lại còn tùy thuộc vào kiến thức nền của mình!

    - Học chữ Hán, ngoại trừ việc chuyên cần, chăm chú viết lách, còn phải cố gắng trau dồi những kiến thức liên ngành như lịch sử, văn học, địa lý, ngoại ngữ, văn hóa - tư tưởng... Bởi tiếng Hán, chữ Hán chỉ là công cụ để từ đó ta hiểu hơn về ngôn ngữ, văn hóa của dân tộc và rộng ra là cả thế giới! Vậy, học chữ Hán cổ nâng cao cũng không thể bỏ qua yếu tố văn hóa Trung Quốc và điển tích Trung Hoa…

    Trích dẫn tới đây, tôi tưởng chắc cũng khó có thể nêu thêm được một kinh nghiệm mới mẻ nào khác. Phần kinh nghiệm cá nhân tôi, mặc dù chẳng đáng kể ra cho lắm, nhưng thú thật tôi học cũng không có bài bản, không có ghi chép kỹ lưỡng như ông Nguyễn Hiến Lê chỉ dẫn, mà chỉ theo cách “mò đá qua sông” (“mô trước thạch đầu quá hà”), vừa mò mẫm tiến tới vừa tích lũy kinh nghiệm… Do lúc còn rất trẻ thích văn chương, triết học Trung Quốc, nên vớ được bộ sách nào có chèn chữ Hán trong đó, như sách Minh tâm bảo giám, bộ Nho giáo của Trần Trọng Kim, tập Đường thi của Ngô Tất Tố… thì đều để ý nhớ được một số câu chữ Hán có ý nghĩa sâu xa thâm trầm mà mình thích. Sau đó, chừng lớp đệ tam (tức lớp 10 bây giờ), tôi học thêm trong vài cuốn sách dạy chữ Hán của người đương thời biên soạn, nhưng không học hẳn cuốn nào, và cũng thiếu tính hệ thống. Trong lúc học, tôi đặc biệt thích môn ngữ pháp, vì sớm nhận ra rằng nếu không am hiểu ngữ pháp và các hư từ Hán cổ (đâu phải chỉ có CHI, HỒ, GIẢ, DÃ) thì khó dịch được chính xác chữ Hán cổ, mới tìm được mấy cuốn như Văn ngôn hư tự của Lữ Thúc Tương, Hư tự dụng pháp cập luyện tập của Chu Dực Tân, Cao đẳng quốc văn pháp của Dương Thụ Đạt… mua trong các tiệm sách cũ, mới ở Chợ Lớn. Càng đọc (chứ chưa phải học) càng thấy có sự lôi cuốn, tôi mới “liều mạng” tự biên soạn một tập ngữ pháp Hán văn ghi chép tay đầy trên 4 cuốn sổ bìa đen, cộng lại dày chừng 800 trang giấy carô khổ lớn. Cùng khoảng thời gian này, ngày nào tôi cũng vào Thư viện Quốc gia Sài Gòn (bây giờ là Thư viện Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh) và Thư viện Viện Khảo cổ (bây giờ là Thư viện Khoa học Xã hội Thành phố Hồ Chí Minh) ghi chép các tài liệu chữ Hán và chữ Pháp, biên soạn được một quyển lấy tên Lịch sử tiểu thuyết Trung Hoa, được một nhà xuất bản nhận in nhưng sau đó vì thời cuộc mà nhà xuất bản phải dẹp và mất luôn bản thảo. Riêng bản thảo về ngữ pháp mãi đến hơn 10 năm sau mới được chỉnh lý lại để xuất bản thành cuốn Sơ lược Ngữ pháp Hán văn (Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh), là một trong những sách ngữ pháp Hán cổ còn rất hiếm hoi ở Việt Nam trong những năm 80 của thế kỷ trước. Trước đó một thời gian, do phải sống trong một tình trạng gần như thất nghiệp, tôi rị mọ dịch đại quyển Lão Tàn du ký của Lưu Ngạc (1850 - 1910), một trong bốn bộ “khiển trách tiểu thuyết” tức tiểu thuyết hiện thực phê phán nổi tiếng của Trung Quốc (giai đoạn cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20), với trong tay chỉ có vỏn vẹn hai quyển từ điển của Đào Duy Anh và của Thiều Chửu (và dường như còn có thêm bộ Từ vị của Đài Loan xuất bản nữa, và một bản dịch tiếng Pháp của nhà Gallimard xuất bản dưới sự bảo trợ của UNESCO). Đến năm 1989 thì sách này mới được xuất bản. Tôi dịch không hay, mà bây giờ gần như cũng đã quên đi, nếu đọc lại chắc chắn sẽ thấy có một số chỗ sai sót đáng tiếc, nhưng phải nhận rằng sau lần dịch đó, số dụng ngữ thủ đắc được đã tăng tiến lên khá nhiều. Ngoài ra do muốn đi sâu vào Hán cổ, tôi cũng đã viết một bài khảo cứu dài về Kinh thi, tuyển dịch và chú thích 100 bài thơ Kinh thi, rồi để đó, chờ có dịp sẽ chỉnh lý lại. Riêng bài khảo cứu đã cho in ở đầu tập Kinh thi của Tản Đà - Nghiêm Thượng Văn - Đặng Đức Tô, do Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 1992. Vậy nếu nói kinh nghiệm, thì kinh nghiệm của tôi là không đợi phải chín muồi rồi mới bắt tay biên soạn, dịch thuật, mà làm ngay như thể một cách tự ra bài tập cho mình làm, làm đến đâu học thêm đến đó một cách tự nhiên không tính toán. Giờ đây, được biết có một số bạn đồng thanh khí của tôi cũng tiến bộ được bằng con đường tương tự như thế. Điều này quả đúng với lời khuyên của cố học giả Nguyễn Hiến Lê, cũng là tên một chương trong quyển Tự học… của ông: “Viết sách và dịch sách cũng là một cách để tự học”.

    Tôi tự xét không phải thuộc hạng người thông minh hoặc có ý chí sắt đá. Còn nói kinh nghiệm, thật ra cũng chẳng có hệ thống kinh nghiệm nào cho ra hồn cả, mà dường như chính sự đam mê, từ đó hứng thú, đã dẫn dắt người ta tự tìm lấy con đường học tập thích hợp cho chính mình. Đã có hứng thú thì không còn biết nề hà nhọc mệt tìm tòi cho dù thức khuya dậy sớm, từ đó luôn tay tra cứu, “thủ bất thích quyển” (tay không rời sách), dần dần thâm nhập, thông qua một quá trình khổ học mà không cảm thấy khổ, công phu mà không thấy bỏ sức công phu, để đạt được những kỹ năng mong muốn lúc nào không hay. Vả chăng, kinh nghiệm nếu thật là kinh nghiệm thì cũng khó trao truyền, như câu chuyện “Đọc sách cổ” kể trong Cổ học tinh hoa (của Nguyễn Văn Ngọc - Trần Lê Nhân), với lời bình của dịch giả: “… Cái hay nhiều khi miệng không thể nói ra được, bút không thể tả hết được… Những kẻ hay mượn bã giả của cổ nhân để buông ra những học thuyết dông dài làm ra sách vở để dạy đời, ta tưởng cũng lầm lắm”.

    Nói chung không nên tin có một bí quyết hay “bí kíp” thần thông nào cả. Chỉ có thể khẳng định một kinh nghiệm đúng cho hầu hết mọi người, đó là học bất kỳ môn gì cũng nên bắt đầu từ lúc còn trẻ, còn có tinh thần hăng hái. Đợi đến từ quá bốn mươi trở lên nhiệt huyết không còn, trí nhớ cũng suy kém đi nhiều, một chữ tra từ điển đôi khi đến hơn mười lần vẫn không nhớ được!

    Trong điều kiện hiện nay, nếu được tiếp cận với một lớp học chuyên tu chữ Hán (như các lớp ở khoa chuyên Văn trường đại học, ở Trường Cao cấp Phật học, ở Tu viện Huệ Quang và một số chùa chiền khác) rồi tự học thêm thì sẽ đỡ vất vả và mau tiến bộ hơn nhiều, vì ít ra cũng có thầy hướng dẫn với sự ràng buộc và chương trình để theo. Nhưng cuối cùng muốn thật sự giỏi thì cũng phải tự học thêm, bằng tất cả mọi phương tiện, mà hiện nay đang rất phong phú so với thời trước. Nên thường xuyên đọc
     
    Đang tải...

Chia sẻ trang này