Tham khảo Từ Thú Chơi Sách Qua Nghệ Thuật Chơi Sách

Tin đăng trong 'Thú chơi sách, sưu tập sách' bởi admin, Cập nhật cuối: 05/01/2019.

  1. admin

    admin Administrator Staff Member

    Tham gia :
    16/04/2018
    Bài viết:
    9.184
    Lượt thích:
    10
    Điểm thành tích:
    81.966
    [​IMG]

    Từ Thú Chơi Sách Qua Nghệ Thuật Chơi Sách
    Vương Hồng Sển

    Năm 1960, tôi viết tập Thú chơi sách và nhờ ông bạn Phạm Việt Tuyền chủ Cơ sở báo chí và xuất bản Tự Do ra vốn in, nay bán đã hết. Đó là bước đầu chập chủm, việc nghe thấy còn sơ sài, nông cạn. Năm nay, 1993, với tuổi già 92, tôi viết tiếp tập nầy, chỗ hiểu biết, thú thật, không giàu hơn trước, có người đã trách tôi có gì thì nói ra hết và viết không biết chừa..., tiện đây, tật cũ không bỏ và nay lại "tóc tơ cạn kẽ đôi điều", còn sống tới ngày nào và nay biết thêm được chút gì xin nói hết ra đây, và nâng cao "Thú chơi sách" thêm lên một bậc và đổi lại là "Nghệ thuật chơi sách".

    Việc của mình, xin nói trước. Gẫm lại cái tuổi trên chín mươi, ít có người đi tới, tuổi ấy có cái hay của nó và ít ai chịu biết là con người vào tuổi ấy, độ thuần nết lại, kẻ dữ thấy bớt hung hăng vì nhuệ khí đâu còn, còn người hiền càng thêm dịu tánh, muốn gần đạo lý và muốn lánh xa niềm tục lụy, và tự thầm trách hố đào đã sẵn và tại sao chưa trao gánh nặng cho xong.

    Nhắc lại, năm 1984, tôi còn đi bách bộ cả mấy cây số ngàn không biết mệt, từ 21-4 đến 2-8-1984, tôi viết được 206 trang giấy đánh máy 21x28, lấy nhan là "Tôi và cuốn sách".

    Qua năm 1989, tôi được 88 tuổi, viết lại từ 2-2 đến 3-4-1989 viết được 208 trang nữa, nhưng vẫn cất giữ trong tủ, nay tôi thâu gọn lại làm tập nầy, đổi ngược, lựa nhan "Cuốn sách và tôi" cho thêm nhã và đề "Nghệ thuật chơi sách" cho thêm gọn, thêm thanh.

    Cẩn tự.

    ° °
    °

    Năm 1977, chợ Trời bày bán sách cũ, dọn ở khu Trường Tiến (Sở Công chánh), ngang trường Trung học Cơ khí (trường Máy Rosel cũ), tôi ra đó bắt gặp và mua được một bản quây Ronéo, khổ 28x42 nhan là "Tố Như Thi" (Thanh-hiên thi-tập, Nam Trung tập ngâm, Bắc Thành tạp lục) giá bán 15 đồng. Đem về nhà, ghi số mục lục 1696-E (9-8-1977), lật vào trong, có con dấu đỏ "B.s. Trần Ngọc Ninh".

    Lòng mừng khấp khởi, nếu ông Ninh không chạy, làm sao mua được sách nầy, sách nầy do Nhà xuất bản Hán văn học ở Hà Nội in năm 1965, ông N. không mua được nên quây Ronéo làm của, nhưng không giữ được, và nếu không có chợ Trời sa thải ra, làm gì mình có? Quả là có sắp đặt trước!

    Nay tôi chép lại đây bài thơ in nơi trang 125, sách đã dẫn:

    51. Mạn hứng

    "Long vĩ cầu biên đa bạch âu,
    "Lam giang đường thượng hữu hàn nho.
    "Nhất sinh tử phú tri vô ích,
    "Mãn già cầm thư đồ tự ngu.
    "Bách tuế vi nhân bi thuận tức,
    "Mộ niên hành lạc tích tu du.
    "Ninh tri dị nhật tây lăng hạ,
    "Năng âm trùng dương nhất trích vô?

    Bài thi nầy, Nguyễn Du viết khi còn lang thang vùng Hồng Lĩnh, năm tuổi vừa trên ba mươi, có lẽ viết năm 1796, dưới bài đã có bản dịch sẵn của Nguyễn Vũ Mỹ và Trần Thanh Mại, chép luôn lại đây:

    Cảm hứng lan man

    "Long-vĩ bờ bên một đám cò,
    "Sông Lam trên bến bác hàn nho.
    "Suốt đời thơ phú lòng vô bổ,
    "Đầy gió sách đàn chất mãi ngu.
    "Cuộc sống trăm năm coi mấy chốc,
    "Chuyên vui tuổi cả tiếc từng giờ.
    "Phía tây bãi cỏ khi nằm xuống,
    "Chén rượu trùng dương ai tưới cho?

    Có chú thích sẵn: Long-vĩ-châu là bãi Long-vĩ, Lam-giang cũng gọi Long-giang (bãi nổi giữa sông Lam). "Mộ niên" đây là một cách nói, vì khi viết, tác giả chưa tới bốn mươi. Nay tôi là kẻ hậu sanh, Sển nầy học chưa tới đâu đâu mà dám viết về nghệ thuật chơi sách, trong khi tiền bạc thay giá, nhẹ hơn tờ giấy mót, lúc mua sách, còn xài tiền vụn, và đồng bạc rất cao giá, 15 đồng lúc đó, nay có bạc trăm bạc ngàn chưa mua được, và nay đồng giấy 200 đồng, cầm cho kẻ ăn xin, còn bị cằn nhằn: "Xin mười chỗ chưa đầy một bát cơm".

    Tiếp theo đó, nhớ ngày 16-7-1977, tôi từ nhà ở Gia Định cũng thả rểu ở chợ Trời sách bỗng chỉ tốn có năm hào (0$50), tôi mua được một tập nhỏ Pháp văn nói về tiểu sử văn hào André Maurois (sách do Michel Droit soạn).

    Về đọc, học được một sàng khôn... Nơi trang 102 có câu Pháp văn, tôi xin chép lại đây và cắp củm dịch lại cho các bạn nhỏ, có dịp học thêm:

    "Conserver l’espérance, c’est également ne pas vieillir. La vieillesse, c’est plus encore que les cheveux blancs et les rides, ce sentiment qu’il est trop tard, que la partie est jouée, que la scène appartient désormais à une autre génération. La vraie maladie de la vieillesse, ce n’est pas l’affaiblissement du corps, c’est l’indifférence de l’âge".

    Tôi dịch:

    Conserver l’espérance, là còn nuôi hy vọng, ấy đó là mình vẫn chưa già. Cái già, không phải là vì mớ tóc bạc, là vì da đã trổ đồi-mồi, và đó là vì có quan niệm lầm lạc rằng đã muộn màng rồi, là canh bạc đã xên, là tấn tuồng đã vãn (mãn), là sân khấu đã về tay thế hệ khác... Không đâu không nên nói già là vì thân thể đã bạc nhược, chỉ biết già, và bịnh già là đúng ra mình không còn thiết tha với thế sự, cuộc đời đã buông xụi, khi nhựa sống đã cạn, là già, già hẳn...

    Ấy đó tôi mê sách và chỉ tốn có năm hào (0$50), khỏi sang Pháp học tốn kém, khỏi ra Hà Nội, chỉ ru rú mà vẫn có sách quí, để viết và khuyến dụ, dụ người khác hãy mê sách như mình.

    Trang sách ấy thuật rằng André Maurois, tên cúng cơm là Emile Hersog, sanh năm 1885 tại Elbeuf là nơi sản xuất loại nỉ trứ danh "drap d’Elbeuf". Vốn là học trò cưng của Emile Chartier, giáo sư dạy Triết trường Sorbonne, lừng lẫy với biệt hiệu nhắc đời là Alain (1868-1961). Hai thầy trò tương đắc và tương trợ lẫn nhau, nhờ Maurois mà Alain nổi danh thầy dạy giỏi, và nhờ học với Alain mà Maurois nổi danh cây bút thần sầu.

    Khi mãn khóa Ở Sorbonne, Maurois hỏi ý kiến thầy, muốn tiếp tục học thêm ở trường Ecole Normale Supérieure nơi đường d’Ulm, là nơi đào tạo giáo sư cao học có tiếng là giỏi về văn chương. Nhưng Alain đã khuyên: "Nay trò đã cứng về văn, học thêm nữa ở Nọt-Manh-Súp, ích gì, bất quá sẽ trở nên một thầy đồ kênh kiệu. Thay vì vậy, trò vốn sanh trưởng ở Elbeuf, nơi đó ông thân của trò sẵn làm chủ hãng sản xuất nỉ tốt, thầy và thợ ở đó rất đông, tại sao trò không về đó học tập nghiên cứu về tâm lý của mấy người ấy. Khi thâm hiểu những người ấy rồi, thì lo gì trò không trở nên một nhà văn có biệt tài. Thầy đồ xoàng sao bì tài tử văn gia có bản lĩnh!"

    Ấy đó bên Pháp, học hành như vậy và thầy dạy như vậy, có đâu như bên ni, học vay viết mướn, khi còn học trong trường thì học theo kiểu tôi gọi là "chó dắt đường, rủi nhiều hơn may", trên thì dạy nhồi sọ, không cho trẻ trồi đầu lên, còn dưới thì lớp vì cha mẹ nghèo không đủ sức nuôi, lớp thiếu thầy có kiến thức dẫn dắt, đường đi tự học trò mò lấy, có khiếu về toán, lại bắt học về văn, v. v... gần đây không xa, trào gọi đời Ngụy cũ, học nơi trường Thú y Hà Nội lên làm trưởng Nông Lâm Súc, một ông khác, học bên Pháp về môn cổ điển học hiệu, Pháp gọi Ecole des Chartes, về xứ nương bóng anh, vốn không biết chữ Nho, rước làm nơi thư viện đời Pháp thuộc, bỗng nhảy qua làm chánh trị, đẻ ra thuyết cần lao nhân vị, chết cha mồ tổ, bỏ nhà ra ấp, mất ruộng mất đồ cổ, ấy tôi mắc tội nói xấu người đã chết, duy xin biết tôi nay nói ra cái thiếu sót của tôi, và chí muốn của tôi, là xin các bạn trẻ, hãy mạnh dạn tự học, học chữ nước ngoài mới mong có ngày hữu ích cho xã hội.

    Tôi kể lại đây một chuyện cũ. Sau ngày 30-4-1975, một học giả được cho sang Pháp, ông muốn hiến một bộ tự điển Pháp: "Dictionnaire de la Langue française" của Littré soạn, bản in lần đầu năm 1875 (Hachette Paris in), nhưng chánh phủ cũ làm phiền phức, ông bán phứt cho chệt ve chai với giá 30$00 ra chục đồng thời Thiệu, sau đó bộ sách lọt về tay tôi, nhưng tôi cứ chê lên chê xuống, rằng "sách quá cũ, thiếu những chữ mới", v.v... bỗng một luật sư (ông Lê Văn Trá) dạy tôi: "Tưởng anh sành sỏi, không dè quá dốt, bộ đó là sách đầu tiên, rất có giá trị, tại sao anh không gởi thơ mua xấp bổ túc gọi "partie supplémentaire" thì sách trở nên tân thời?". Tôi học khôn đã muộn.

    Sách chữ Tây tôi mua hổ lốn lủ khủ cả mấy ngàn cuốn chung qui nên kể mấy cuốn sau đây, dám khuyên các bạn thông hiểu Pháp văn, nên tìm mua bổ túc sự học.

    Sách của Alain là:

    * Alphonse Allain. La Barbe et autres contes (m.l. 456, tủ 9)
    * Alain, sa vie, son oeuvre (PU 1962 (mục lục 218/44, giá mua 1 đồng, 7-7-1979)
    * Alain. Idées, Introduction à la Philosophie U.G.Editions (m.l. 218-A/163 đồng)
    * Alain. Les Idées et les Âges (Gallimard) (m.l. 218-A/17, ngày 31-X-1977, 2 đồng)

    Sách của A.Maurois:

    * Les silences du colonel Bramble
    * Climats (Grasset)
    * Terre promise (Flammarion)
    * Dialogues des vivants (Arthène Fayard)
    * Un art de vivre v.v...

    Bạn cố giao đã khuất, Lộc Đình Nguyễn Hiến Lê, đã dịch và viết trên trăm cuốn sách, cuốn tái bản sau rốt là "Sống đẹp" của Lâm Ngữ Đường, nhưng thiết nghĩ rừng Âu-Á làm sao lột dịch cho hết, tôi làm hỗn đâm rào, dịch lại đây một đoạn trích trong LIRE, n.105, Juin 1984 (để dò dịch được hay dịch sai, và các bạn nhỏ bổ túc thêm Pháp-ngữ:

    "Cest animal étrange, le Français! Qu’est-ce qu’un Français, se demand-t-il. Réponse: Un être qui est avant tout, le contraire de ce que vous voyez."

    Tôi dịch như vầy:

    Anh chàng Français là cái thứ gì? Chàng ta tự hỏi và tự trả lời lấy: Tây u, Pháp nhân, Français là anh chàng vốn trái nghịch hẳn với anh chàng mà chính anh thường thấy.

    "Observation capitale."

    Và câu nầy quan hệ, đại sự lắm.

    "La France est divisée en 43 millions de Français. Le Français est un homme qui place la France dans son coeur, mais sa fortune à l’étranger, qui passe son dimanche à se proclamer républicain et sa semaine à adorer la reine d’Angleterre et qui voit rouge au signal vert..."

    Nước Pháp, Pháp quốc, vả chăng chia gồm làm 43 triệu dân. Duy tên dân Pháp là một người có thể nói: tâm trung gởi nốt vào tâm, nhưng sự nghiệp, của cải, vẫn thường gởi nơi nước ngoài, ngoại quốc, đúng là tên dân mà ngày chủ nhật một hai tuyên bố mình là người của dân chủ cộng hòa (républicain) mà thường nhật trong tuần lễ, mấy ngày khác, vẫn sủng ái bà Anh hoàng, đúng là một đứa vẫn thấy màu đỏ hồng, trong khi dấu hiệu đó là màu xanh lục. (Thú thật câu văn Pháp quá cao sâu khúc triết, tôi dịch không thoát và dám xin người cao niên dạy cho - VHS).

    (theo báo Paris Match 19-26 juin 1954). (Câu văn Pháp nầy trích trong cuốn "Les camets du major Thomson, của Pierre Daninos, Hachette, mục lục 68, 1976).

    Còn nhớ vài câu văn Pháp thâm trầm, theo tôi, cũng xin dịch nghĩa luôn:

    "Toujours nous voulons chercher l’éternel ailleurs qu’ici; toujours nous tournons le regard de l’esprit vers autre chose que la présente situation et la présente apparence; ou bien nous attendons de mourir comme si tout instant n’était pas mourir et revivre. A chaque instant, une vie neuve nous est offerte. Aujourd’hui, maintenant, tout de suite, c’est notre seule prise".

    Ta luôn tìm sự bất diệt vô thủy vô chung ở một nơi khác hơn là nơi hiện hữu; ta luôn đưa mắt nhìn về một nơi khác lạ hơn là nơi hiện tại và nơi tựa hồ như hiện thật, tưởng như chúng ta mong chờ cái chết sẽ đến mà quên lửng rằng hiện ta đang chết lần chết mòn tức chết lần hồi, mòn lần từng chút một, tức ta vẫn sanh-sanh hóa-hóa bất ngờ. Ngày nay đây, giờ nầy đây, tức khắc đây, ấy đó mới thật là cái sự gì mà ta nắm, bắt, chiếm được.

    Alain, triết gia, thầy của André Maurois.

    Về tình ái, ái tình:

    "Un amour qui va très bien, c’est-à-dire cahin-caha, c’est difficile; mais un amour qui ne va pas, c’est l’enfer".

    Một mối tình suôn sẻ, nghĩa là ạch đụi, đi cà-hê cà-ha, đã là ái tình chập chủm, nhưng khi trở chứng, cơm không lành canh không ngọt, thì tình ái ấy quả là địa ngục, dưới Diêm đài.

    A.Maurois (Climats, tr.172).

    Lời mẹ dạy con, trước khi về nhà chồng:

    "Ne donne pas à ton mari l’impression que tu l’aime trop, ou tu es perdue".

    "Đừng cho chồng mầy biết mầy thương nó chí tột mức thương, nếu nó mà biết được như vậy, thì đời con kể bỏ. Con sẽ mất hết, con ôi".

    (Climats, tr.181)

    "C’est comme le sel, nous ne savons même pas que nous en absorbons, mais supprimons-le de tous nos repasl et sans doute, nous mourrons."

    Ái tình y như cục muối, muối vẫn xẵng lè, nhưng nếu không có muối, thì không xong. Ngày thường, thức ăn đều có nêm muối vào, ví thử đừng nêm, thì ta sẽ chết ngay.

    (Climats, tr.228)

    "La maladie est une forme de bonheur moral, parce qu’elle impose à nos désirs et à nos soucis des limites fermes."

    Đau ốm, bệnh hoạn là một triệu chứng của sự hạnh phúc ta ấp ủ trong lòng; đau ốm là mức thắng tốp của sự ham muốn, lòng dục vọng.

    (Climats, tr.230)

    "L’amour supporte mieux l’absence ou la mort que le doute ou la trahison".

    Nói vợ ái tình, thì thà chịu cảnh sanh ly, hoặc tử biệt, hơn là cảnh bán tín bán nghi và cảnh bị mọc sừng.

    (Climats, tr.231)

    (Dịch 20-9-1982, Climats là gì? Khó dịch cho thoát quá. Climat sát nghĩa là "khí hậu, phong thổ", nhưng Climats, đây là André Maurois viết một bộ tiểu thuyết về xã hội trong gia đình, v.v... tôi muốn dịch là "ấm lạnh phòng the", nhưng thấy chưa sát nghĩa và đi xa ý thâm của A.Maurois, thôi thì đành chịu và chờ người hay giải dạy thêm. (viết ngày 22-4-1993).

    ° °
    °

    Bị gián đoạn một thời gian vì rối rắm trong gia đình, nay 26-4 mới viết tiếp. Còn nhiều câu triết lý hấp dẫn lắm, nhưng nhớ lại làm sao cho hết?

    Âu đành gián đoạn, khi nào nhớ sẽ viết và viết không cần có trật tự vì viết cho mình và cho con và cháu trong nhà. Chừa H. Miller lại vế sau...

    Cuốn sách và tôi. Ban đầu, năm 1984, tôi chọn tựa là "Tôi và cuốn sách", năm ni 1993, thuần nết thêm, đặt khách đi trước cho được thêm nhã và viết như trên, "Cuốn sách và tôi".

    Đời tôi có hai cái mê, mê ham cuốn sách từ tuổi ngây thơ, lớn lên đôi chút, mê cổ ngoạn, và nay rõ lại mê sách ít có tai hại như mê đồ cổ.

    Nội chữ "mê" cũng đủ lắm chuyện. Có nhiều phụ nữ nhà văn sợ chữ "mê" và không dùng đến. Nhưng tôi từng viết "Năm chục năm mê hát", một cán bộ lên mặt thầy đời, khi Giải phóng vô đây, sau ngày 30-4-1975, y ta chê tôi viết "mê hát" là không được thanh, nhưng cùng một lúc ở Paris, có người thức giả vẫn khen "mê hát" là phải. Cho hay bá nhơn, bá tánh!

    Tôi còn cất giữ quyển dạy chữ Pháp Méthode Boscq ba năm vào trường tỉnh Sóc Trăng học lớp khai tâm, năm 1908 gì gì đó Boscq là người Tây cù lao Cọt (Corse), vốn thọ giáo với Trương Vĩnh Ký nên biết và nói tiếng Nam rất rành.

    Trong sách, Boscq lấy tỉ dụ vài câu, ngày nay tôi dịch không y ông dạy. Tỉ như Le père de Đá va à la pagode (Cha trò Đá đi chùa), tôi nay dịch: "Thầy ký Đức đi Dinh Cô" vì cha của Đá tên Đức, còn Dinh Cô là một chùa am ở Bà Rịa thuở đó. Còn như câu: Mr. Kính assiste à un match de boxe, tôi đã dịch ngay: "Bố vợ đi coi đánh nu-na" vì người dượng ghẻ của vợ tôi là ông Trần Văn Kính, mấy mươi năm về trước, nghề đánh bốc (boxe) là đánh nu-na chớ gì?

    H. Miller nói nơi đoạn trên, viết hay mà dơ dáy lắm, nói tục không chừa. Tôi cảm và viết theo, vả lại một học giả nước Áo (Autriche) qua đây, chỉ lựa và mua ở chợ Trời toàn sách tục và bà đó dạy tôi "cái gì porno mới đúng thuộc Folklore, đích thị là tục-truyền của một địa phương, gọi Phong-tục-học cho nghe thanh, chớ cùng một thứ".

    *********
    Cuốn Sách Và Tôi

    Hôm trước tôi viết chưa đầy trang, bỗng bị gián đoạn, hôm nay 5-5-1993, tôi viết tiếp, và câu chuyện đã bị đứt khúc đầu Ngô mình Sở, âu cũng là số phận:

    Trong cuốn Thú chơi sách, viết năm 1960, vì bài thơ Tôn Phu nhơn qui Thục tôi đã bị chế giễu và làm trò cười trong giới vọc vạch tập làm tám câu theo lối thơ Đường, hai bạn Thuần Phong Ngô Văn Phát và bạn thân Tế Nhị Lê Văn Chính, nay đã lui về chầu Diêm chúa, năm ni 1993, tôi vẫn chưa tởn, và xin trở lại bài Tôn Phu nhơn nầy nữa, và gẫm lại, viết về chánh trị thì nguy hiểm, chi bằng tìm dấu người xưa giữa hai ông Phan Văn Trị và Tôn Thọ Tường là tốt hơn. Trước tiên, xin thưa, tôi viết là tùy hứng, nhớ đâu viết đó và nếu có "hàm-bà-lằng loạn-xạ" thì cũng đành chịu, và xin độc giả tha thứ cho tuổi già.

    Tôi nhớ lại anh Thuần Phong, tuổi chưa già lắm nhưng tại sao anh chọn chết đến ba lần, chết vì bịnh, rồi hỏa táng chết bị lửa đốt, rồi nghe đâu tro cốt anh yêu cầu được chôn vùi trong lòng Đồng Nai nước lạnh... và ngày tôi đến điếu tang trễ, lại thấy thờ anh với cây viết máy Sheeffers đắt giá, không biết có còn y chỗ cũ hay chăng? Trong khi ấy, anh Tế Nhị, khi lìa trần, lại xin quan tài màu trắng giữ lòng trinh bạch, khi cất đám lại có nhạc Tây đưa linh, và anh lên nằm gần mả Huynh và Đệ họ Ngô Đình trên vùng Lái Thiêu Sông Bé cao ráo, nhưng anh nằm nơi đó có vĩnh cửu hay chăng, vì năm rồi, chị quả phụ anh Chính từ Úc châu về, có ngỏ ý muốn đưa anh về nằm vùng Thủ Đức, gần gũi hơn, còn như đối với hai ông Trị và Tường, xin hỗn cho tôi gọi tắt cho gọn, họ Tôn sanh năm 1825 và mất năm 1877, lớn hơn Trị năm tuổi (Trị sanh năm 1830 và đến năm 1910 mới mất), và như vậy cái tin "Khóc đầu Hạng Võ" là tin trật lất, vì chết năm 1877 làm sao khóc năm 1910 được, và tiện đây xin thày lay luôn, bài "Vườn xuân vắng chúa lậu tin mai", theo tôi có lẽ là của họ Tôn thác lời khuyên con để nói trớ xin khất không theo Trương Định được, và có lẽ bài "Bái công khóc đầu Hạng vương" là thơ họ Tôn khóc tiếc Trương Định rồi nào việc lãnh binh Huỳnh Tấn xin Tây đừng giết Quản Trực vì Trực tài hay hơn Tấn thật nhiều, nhưng Tây đâu có nghe lời Tấn, vì oán ông Trực giết Tây quá nhiều vả lại một một hai hai, Nguyễn Trung Trực xin chịu tử hình hơn là hàng đầu ô nhục. Trực thọ hình tuổi vừa hơn ba mươi, anh hùng tử khí hùng nào tử.

    Nay nhơn nhắc đến Hạng vương, tôi xin bắc cầu nói trở lại vế cái chết thật anh hùng có một không hai nầy. Theo truyện Tây Hớn, bản dịch của Nguyên Chánh Sắt (1908) do Huỳnh Trí Phú ra tiền cho Imprimerie Saigonnaise xuất bản, thuật rằng nơi trận Ô giang, binh tướng không còn, con Ô chùy đã nhảy xuống sông, không chịu lên thuyền của Đình trưởng, nàng Ngu Cơ cũng đã không còn, lực tàn binh hết, sức không còn, trí đang rối đến cực độ, bỗng thấy tướng bên Hớn là Lữ Mã Thông bèn gọi "cố nhơn" hai tiếng rồi rút gươm tự vận. Trong truyện không nói nhiều, nhưng nay luận thêm, đời ấy bày ra lệ thói dùng đầu lâu kẻ địch làm trận công để thăng cấp nên gọi "đầu lâu là thủ cấp", nhưng buổi ấy, uy danh Hạng vương còn quá nhiều, năm tướng cạnh của Lữ Mã Thông, bèn tranh chia nhau cắt hai tay, hai chân và khúc thân mình Hạng vương mang về chia công, và nói thêm, tên phản bội lớn khác như Tiêu Hà, với câu Hàn Tín từng than: "Sanh ư Hà, tử ư Hà", tên Tiêu Hà nịnh bà Lữ Hậu ấy, vẫn đầu thai làm Dương Tu, để cho hậu kiếp của Tín là Tháo chém cho hả giận.

    Cho hay tin hay không tin là chuyện khác, dầu chi cũng được một chầu vui khi tửu đàm trà luận, Hạng vương thác vừa hơn ba mươi tuổi, Hoài Âm Hầu cũng chết tuổi vừa 34, éo le và khéo viết thay người sáng tác truyện xưa theo truyền khẩu mấy đời mấy miệng kể tích truyện xưa Ba Tàu. Đến đây xin trở lại chuyện luân hồi lộn kiếp như trong bộ "Trọng Tương vấn Hớn", dẫu cho rằng dị đoan, nhưng hủ lậu như tôi, xin thưa dị đoan như vậy cũng nên có và nên để dành, lưu truyền mà vô hại vô phạt, không chi cũng an ủi lòng kẻ còn gốc mê tín do ông bà tổ tiên để lại, từ Âu cũng có và từ Á vẫn còn hoài, tiếng "folklore" của Pháp, dịch ra là phong tục học, là tục truyện, là dã thặng của một địa phương. Bên Tây, khi ngồi giữa ban ngày bỗng nghe mặt bàn gỗ thinh không kêu "rắc" vẫn có người bỏ chạy, bên Tàu bên Ta cũng y một thế ấy, và vẫn nhang khói vái van thinh khổng thinh không, theo tôi, như vậy là không hệ gì đâu. Tôi đã từng thấy một nhà cách mạng nọ, đau nằm trên giường bệnh, không thốt lời gì nhưng vẫn nhắm mắt giả ngủ, để cho bà xã và người con gái đều từng đi kháng chiến nhưng nay thầm vái người khuất mặt cầu cho chồng cho cha qua khỏi cơn bệnh, không khác chiếc thuyền ra khơi lâm bão lớn, vẫn còn cho thuyền giữ được khúc bánh lái cầu an!

    Tôi đã sa đà nói toàn chuyện bâng quơ, và nay xin kể thêm về tích ông thần địa phương thờ ở làng Vĩnh Thanh Vân cũ ở Rạch Giá là ông Nguyễn Trung Trực, đình làng nầy vẫn do một người Tây chính cống là bác sĩ Le Nestour đứng ra xin lập đình giả thờ linh ngư Nam Hải tướng quân (Cá Ông) nhưng kỳ trưng vị thần có bài vị để thờ là Nguyễn Trung Trực. Một buổi sáng, tôi ghi là ngày 3 mars 1976, nhơn ra chợ Trời bán sách cũ, tôi bỗng được anh Liễu, (tên người bán sách nay không biết còn mất thể nào), Liễu cứ theo nài ép, cố mời tôi mua hộ một cuốn sách đã mất trang bìa nên không rõ sách ấy nói gì, duy đã đóng bìa vén khéo, giá sách chỉ hai đồng (2đg giấy) thôi, tôi gượng gạo mua để làm vừa lòng Liễu, nhưng khi về nhà và dò lại, Liễu đã biếu tôi một cuốn giá trị rất lớn và đó là cuốn đã không còn nơi đất Lục tỉnh Nam kỳ nầy, và chỉ còn một cuốn duy nhứt (?) nay lưu trữ tại kho sách trung ương ở Hà Nội, và đó là quyển Pháp văn:

    "Scènes de la Vie Annamite KHI-HOA", Recueil de nouvelles: le meurtre du Capitaine BARBÉ, la Surprise de Rạch Giá,... (etc) PARIS 1884, (livre très rare: un exemplaire à la Bibliothèque Centrale de Hà-nội, exposé à Saigon centenaire naissance J.B.E. LURO) Voir Bulletin de la Société des Etudes Indochinoises, n. ler et 2è trimestres 1940, p. 163).

    Và đó là chút duyên của tôi với nghiệp hay thú chơi sách, và trong sách ấy có một đoạn kể NguyễnTrung Trực từng bị giam nơi Khám Lớn Sài Gòn và trong buổi bị tra khảo ông đã nhất quyết chịu thọ hình (chết chém) chớ không hàng giặc. (Ngày nay cuốn tàng trữ ở Hà Nội có còn hay chăng?)

    Cuốn sách quèn giá mua hai đồng tiền giấy (2đg) ghi số mục lục 420 B (3-3-1976), giá thử nay có người giàu bạc triệu muốn được làm chủ, thà chịu chết và cứ ăn rau muống, người ấy đừng mong rớ tới.

    Đã nói sa đà thì cứ sa đà luôn, tỉ như chuyện Thủ khoa Huân thọ tử hình, bao nhiêu sách và thi để lại đều ghi câu "chết tại Tho Giang"; cho hay Tho Giang tôi hiểu là sông Tiền Giang, khúc chạy ngang chợ hạt Mỹ Tho, nhưng kỳ trung, tôi sưu tầm ra Huân bị Tây chém tại Bến Tranh, nơi ông khai chiến, và Bến Tranh ấy là làng Phú Kiết (tên cũ) khúc Bảo Định chớ không phải Sông Tho. Cho hay việc cũ vừa hơn trăm năm, mà gốc tích đã sai lạc, nước Việt ta cho đến đời nào mới có được một cuốn tự điển có hình ảnh và không sai như quyển bé tí Petit dictionnaire Larousse của Pháp? Còn lâu!

    Trích: Tạp Bút Năm Quý Dậu 1993
     
    Đang tải...

Chia sẻ trang này