Tham khảo CẨM NANG VIẾT KHẢO LUẬN, LUẬN VĂN VÀ LUẬN ÁN by Thích Nhật Từ

Tin đăng trong 'Luận văn, luận án, Tài liệu tham khảo | Thesis' bởi admin, Cập nhật cuối: 31/05/2018.

  1. admin

    admin Administrator Staff Member

    Tham gia :
    16/04/2018
    Bài viết:
    14.278
    Lượt thích:
    189
    Điểm thành tích:
    125.887
    CẨM NANG VIẾT
    KHẢO LUẬN, LUẬN VĂN VÀ LUẬN ÁN

    Thích Nhật Từ
    CHƯƠNG I
    TỔNG LUẬN VỀ NGHIÊN CỨU
    (INTRODUCTION TO RESEARCH)

    I. KHÁI NIỆM NGHIÊN CỨU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

    1. Khái Niệm Nghiên Cứu

    Về phương diện nghĩa đen, nghiên cứu, theo chữ Hán, là suy xét (cứu) và nghiền ngẫm (nghiên) một vấn đề cho thấu đáo. Trong tiếng Anh, từ “nghiên cứu” là “research.” Bắt nguồn từ tiếng pháp “recerche(r), từ ‘research’ được kết hợp bằng hai thành tố “re” có nghĩa là lập đi lập lại nhiều lần, và “search” có nghĩa là tìm kiếm để phát hiện hay khám phá. Như vậy, ghép hai thành tố lại, từ “reseach” có nghĩa là tìm kiếm nhiều lần để khám phá hay phát hiện ra những điều chưa biết hay những thông tin mới.

    Về phương diện của khoa học nghiên cứu, nghiên cứu không chỉ đơn thuần là “hành vi tìm kiếm để phát hiện ra những sự kiện mới hay thêm vào mảng thông tin những điều chưa biết.”[1] Bởi lẽ, theo giáo sư Phillips và Pugh, nghiên cứu được hiểu như sự phát hiện ra những sự kiện mới và thêm những thông tin chưa biết là định nghĩa của người thường, không phải của khoa học nghiên cứu. Và hơn hết, định nghĩa như vậy có phạm vi vừa quá rộng và quá hẹp.[2] Quá rộng vì nó bao gồm nhiều hoạt động, chẳng hạn như tìm thời giờ cho chuyến xe lửa kế đến Luân-đôn, hay cũng như làm giảm nhiệt độ của hồ bơi, cái mà chúng ta không thể xem là nghiên cứu... Dù là quá rộng, định nghĩa như vậy lại trở nên quá hẹp, bởi lẽ, có rất nhiều nghiên cứu không liên hệ gì đến “phát hiện ra những gì bạn chưa biết,” nhưng lại liên hệ đến “sự phát hiện ra cái mà bạn chưa biết về vấn đề nào đó.”[3]

    Thực ra, nghiên cứu là quá trình khảo sát hay thẩm tra một vấn đề, là công trình thí nghiệm đặc biệt, nhằm mục đích khám phá những kiến thức mới hoặc giải thích lại những sự kiện cũ bằng các học thuyết mới hoặc hiệu đính, tu chính những học thuyết, định luật đã có hoặc dựa theo những sự kiện mới tìm được để hình thành nên học thuyết hoàn hảo hơn. Nói đơn giản, nghiên cứu là công trình khảo sát, là nỗ lực tìm kiếm hay khám phá những sự kiện hay thông tin hay kiến thức mới bằng các phương pháp có hệ thống và khoa học về một lãnh vực nghiên cứu nào đó, với mục đích mở rộng hay đào sâu hơn kiến thức về một chủ đề trong lãnh vực đã chọn đó. Nó liên hệ đến việc xử lý tài liệu, khái niệm, biểu tượng với mục đích phổ quát hóa vấn đề đến một tầm mức nào đó, hiệu đính hay kiểm chứng kiến thức.

    Ngoài ra, theo giáo sư C. C. Crawford,[4] một nghiên cứu theo đúng nghĩa phải bao gồm chín đặc điểm sau đây:

    — Xoay quanh hay đào sâu một vấn đề.

    — Liên hệ đến tác phẩm nguyên thủy.

    — Nội dung phong phú do thái độ đam mê của người viết.

    — Đòi hỏi một khối óc rộng mở.

    — Nó dựa trên giả định rằng mọi sự vật đều có qui luật và trật tự của nó.

    — Đối tượng của nó là nhằm khám phá các qui luật và tiến đến phổ quát hóa.

    — Nó là sự khảo sát về nhân và quả của vấn đề.

    — Nó dựa trên các phương pháp đo lường.

    — Nó gắn liền với kỹ thuật ý thức.

    2. Khái Niệm "Phương Pháp Nghiên Cứu"

    Phương pháp nghiên cứu, tiếng Anh gọi là “method of research” hay “research methodology” hay còn được viết gọn bằng một chữ “methodology.” Trước hết, chúng ta cần phân biệt hai phương diện của nghiên cứu, đó là, nội dung và phương pháp.

    Nội dung là những gì chúng ta sẽ phải trình bày cho độc giả trí thức. Nó là trọng tâm hay chủ đề chính của công việc nghiên cứu. Phương pháp là cách thức chúng ta giải quyết chủ đề trọng tâm đó. Giữa hai cái, nội dung thuộc về phần chủ não và quan trọng, vì đó là những gì chúng ta sẽ đóng góp kiến thức cho học giới. Phương pháp chỉ là công cụ nên tầm quan trọng của nó chỉ thuộc cấp độ hai, vì nó cũng cần thiết cho việc hỗ trợ nhà nghiên cứu hoàn thành công việc nghiên cứu đúng thời hạn, đạt tiêu chuẩn. Phương pháp phải được lựa chọn ngay sau khi và phải thích hợp với bản chất của nội dung.

    Phương pháp bao giờ cũng là phương pháp của một công việc hay cho một vấn đề nào đó. Do vậy, phương pháp sử dụng cho lãnh vực này không thể ứng dụng cho lãnh vực khác. Chẳng hạn như, phương pháp của vật lý, loại phương pháp thực nghiệm trong phòng thí nghiệm, không thể áp dụng cho lãnh vực thuộc khoa học xã hội, như kinh tế học, bộ môn cần dựa vào sự quan sát số lớn các sự kiện khác nhau hoặc thống kê v.v... Như vậy, tiêu chí cho sự toàn hảo về một phương pháp là nhằm đáp ứng các yêu cầu của nội dung. Trong một mức độ nào đó, phương pháp chọn lựa thích hợp sẽ có thể kéo theo chất lượng và giá trị của tác phẩm nghiên cứu, và ngược lại. Chính vì lý do này, nhà nghiên cứu không chỉ lưu ý về những gì được nghiên cứu mà còn về phương pháp hay cách thức giải quyết chúng. Vì thế, tìm hiểu về phương pháp nghiên cứu trở nên cần thiết đối với nhà nghiên cứu.

    Trở lại vấn đề, thuật ngữ “methodology” có nghĩa là khoa học phương pháp (the science of method) hay học thuyết nghiên cứu (the theory of research) hay phương pháp nghiên cứu có hệ thống và có khoa học (scientific and systematic method of study). Phương pháp luận nghiên cứu là sự nghiên cứu đặc biệt về các phương pháp được áp dụng trong nghiên cứu. Mục đích của phương pháp luận nghiên cứu một mặt là nhằm nhận dạng các đặc điểm chung và riêng của phương pháp nghiên cứu và mặt khác nhằm xác định phương cách các đặc điểm của phương pháp khác nhau tùy theo bản chất của các ngành, lãnh vực mà chúng trực thuộc.

    Nền tảng của sự nghiên cứu, tìm tòi này nằm trong các trường hợp cụ thể của các nghiên cứu đã được thực hiện. Các nghiên cứu đó sẽ cho chúng ta biết được các điểm mạnh cũng như điểm nhược, thành công cũng như thất bại tong việc ứng dụng các phương pháp của những người làm công tác khảo cứu.

    Nói tóm lại, trên căn bản, phương pháp nghiên cứu đóng vai trò quan trọng trong việc giúp chúng ta, từ việc đúc kết các kinh nghiệm xương máu của các nhà nghiên cứu trước, tránh được các thao tác dư thừa trong khi tiến hành và không vấp phải những sai suất trong khi thực hiện.

    II. PHÂN LOẠI NGHIÊN CỨU
    Dù phương pháp nghiên cứu là đa dạng và các vấn đề hay chủ đề nghiên cứu đã, đang và sẽ được thực hiện là nhiều đến độ không thể tính đếm, loạïi hình nghiên cứu trên bản chất là có giới hạn và có thể được phân thành ba phần chính sau đây:

    1. Nghiên Cứu Phân theo Số Người Tham Dự: gồm có

    — Nghiên cứu của cá nhân.

    — Nghiên cứu của tập thể gồm từ hai người trở lên.

    2. Nghiên Cứu Phân theo Địa Điểm Thực Hiện: gồm có

    — Nghiên cứu trong phòng thí nghiệm.

    — Nghiên cứu ngoài phòng thí nghiệm.

    3. Nghiên Cứu Phân theo Bản Chất hay Mục Đích: gồm có

    — Nghiên cứu thuần túy.

    — Nghiên cứu ứng dụng.

    Trong ba phân loại trên, nghiên cứu phân theo bản chất hay mục đích là quan trọng nhất. Về mối tương quan giữa chúng, bất kỳ một công trình nghiên cứu nào cũng liên hệ đến ba phân loại trên. Một nghiên cứu nào cũng có người thực hiện. Người thực hiện có thể một mình hay có sự cộng tác của một hay nhiều người đồng nghiệp. Kế đến, nghiên cứu đó sẽ thuộc vào một trong hai loại sau đây, ứng dụng hay thuần túy. Và, nếu nó là nghiên cứu ứng dụng thì thường nó sẽ được tiến hành trong phòng thí nghiệm. Nếu nó là nghiên cứu thuần túy thì nó có thể được tiến hành trong hoặc ngoài phòng thí nghiệm tùy theo lãnh vực nghiên cứu. Do đó, ta có thể phân loại tất cả các nghiên cứu thành hai loại hình chính, đó là, nghiên cứu thuần túy và thực dụng.

    a) Nghiên cứu thuần túy (pure research): Là các công trình tìm tòi và khám phá kiến thức mới cho một lãnh vực nào đó một cách không vụ lợi, không bị vẩn đục bởi các tính toán liên hệ đến các hình thái sử dụng xã hội, theo đó, các khám phá có thể được đưa vào.[5] Nói cách khác, nghiên cứu thuần túy mang tính cách bất vụ lợi, chỉ nhằm mục đích khám phá và làm cho vấn đề trở nên chân thiện mỹ mà thôi.

    b) Nghiên cứu ứng dụng (practical or applied research): Là công trình nghiên cứu của một cá nhân hay tập thể hay của các viện, ban, ngành, công ty kỹ nghệ v.v.. . thực hiện với mục đích nhằm phát minh các sản phẩm mới hay cải tiến các sản phẩm đã có, để phục vụ cho các mục đích xã hội, nhất là kinh tế. Nói cách khác, nghiên cứu ứng dụng là các công trình tìm kiếm và khám phá ra những cái mới, nhắm đến mục đích phục vụ cho các nhu cầu xã hội, để gặt hái các hiệu suất kinh tế.

    c) Mối liện hệ giữa chúng: Các nghiên cứu thuần túy, trên thực tế, có thể liên hệ đến các nghiên cứu khoa học thuộc thực dụng hay ứng dụng. Các nghiên cứu thuần túy của ngày hôm qua trở thành các nghiên cứu ứng dụng ngày hôm nay, và rồi chúng có thể trở thành các máy móc, vật dụng hay tiến trình của ngày mai.[6]

    III. TIÊU CHUẨN CHUNG VÀ CHUYÊN MÔN CỦA NHÀ NGHIÊN CỨU

    Đam mê thuần túy vẫn chưa đủ để trở thành nhà nghiên cứu giỏi. Đam mê có thể giúp bạn thâu thập được kiến thức cần thiết. Để trở thành nhà nghiên cứu giỏi, ngoài kiến thức như điều kiện cần thiết, tức ngoài đam mê, và thông thạo phương pháp làm việc, bạn còn phải hội đủ các tiêu chuẩn chung và riêng sau đây:

    1. Các Tiêu Chuẩn Chung cho Việc Nghiên Cứu

    a) Thông thạo về lãnh vực nghiên cứu

    Vì nghiên cứu nhằm hướng đến kiến thức chuyên sâu về một lãnh vực quen thuộc, nó đòi hỏi nhà nghiên cứu cần phải có các kiến thức nền tảng về lãnh vực đó. Chỉ khi nào bạn có được các kiến thức nền tảng về một lãnh vực nào đó, bạn mới có thể dễ dàng tiến xa và sâu vào lãnh vực, phát hiện ra những thông tin mới và đóng góp chúng cho học giới. Bằng không, bạn chỉ mãi là người thừa kế hay thừa hưởng thành quả nghiên cứu của các học giả khác mà thôi.

    b) Động cơ phát minh

    Nhà nghiên cứu phải có thái độ đam mê trong khám phá những thông tin chưa được biết đến. Đam mê khám phá là thái độ, là niềm khao khát nâng cao kiến thức của bản thân. Càng có nhiều đam mê, nhà nghiên cứu càng có nhiều cơ hội phát hiện và đóng góp những kiến thức mới cho một lãnh vực theo đuổi nào đó. Đức tính này cần đượïc phát triển ngay khi bạn bắt đầu vào nghiên cứu và cần được duy trì và phát huy trong suốt thời gian bạn dấn thân vào công tác nghiên cứu.

    c) Khả năng tư duy

    Để có thể đạt được niềm khát khao của mình, nhà nghiên cứu cần phải có khả năng tư duy và phản ánh một cách logic, có hệ thống và biện chứng. Thường con người có bản năng tư duy và phản ánh. Nhưng bản năng này chỉ được phát triển ở một mức độ nhất định trong những trường hợp tình cờ hay ngẫu nhiên mà chưa được đào luyện để trở thành một phản xạ có điều kiện. Nhà nghiên cứu phải đào luyện chính mình phản xạ phản ánh và tư duy có hệ thống về các vấn đề, nhất là vấn đề đang theo đuổi nghiên cứu.

    2. Các Tiêu Chuẩn Chuyên Môn cho Việc Nghiên Cứu

    a) Kiến thức về ngôn ngữ nguồn tài liệu

    Đây là điều kiện tiên quyết giúp bạn đi sâu vào lãnh vực chuyên ngành. Không có kiến thức về ngôn ngữ chuyên ngành, dù có động cơ tốt, có khả năng tư duy bén nhạy, có kiến thức nhiều, bạn cũng khó có thể bước chân vào con đường phát hiện ra những kiến thức mới. Muốn trở thành chuyên gia về triết học Aán Độ, điều kiện tiên quyết là bạn phải rành ngôn ngữ triết học Aán như Sanskrit gốc (Pure Sanskrit), Sanskrit Phật giáo (Buddhist Hybrid Sanskrit) và Pli. Tương tự, muốn trở thành chuyên gia về triết học phương Tây, bạn phải rành về tiếng Hy-lạp, tiếng La-tinh, tiếng Đức, tiếng Pháp, tiếng Anh. Kiến thức chuyên môn về ngôn ngữ nguồn tài liệu gốc là chìa khóa đưa bạn đến tiếp cận văn bản gốc, tư duy về văn bản gốc và khám phá chúng. Bằng không, bạn chỉ có thể dựa vào bản dịch hay sử dụng các tài liệu hai về chủ đề mà thôi.

    b) Thông thạo về ngôn ngữ báo cáo

    Ngôn ngữ báo cáo là ngôn ngữ bạn sử dụng viết công trình nghiên cứu của bạn. Nhà nghiên cứu cần phải thông thạo ngôn ngữ mà mình sẽ phản ánh hay phúc trình công trình nghiên cứu. Không có khả năng diễn đạt chuyên môn và lão luyện về ngôn ngữ báo cáo, nhà nghiên cứu khó có thể thành công trong việc thông tin cho độc giả những khám phá mới của mình. Nhu cầu thông thạo về ngôn ngữ viết không có nghĩa buộc nhà nghiên cứu phải trở thành nhà văn lão luyện, mà chỉ yêu cầu nhà nghiên cứu có khả năng diễn đạt một cách chính xác, rõ ràng ý tưởng của mình. Chỉ có diễn đạt chính xác mới có thể dẫn đến sự đọc hiểu chính xác ở người đọc.

    c) Khả năng phân tích

    Vì luận án là một trong những hoạt động nghiên cứu cao cấp, ngôn ngữ diễn đạt của nó nên nặng về phân tích hơn là mô tả. Mô tả chỉ dành cho sách giáo khoa và sách thông thường. Ngôn ngữ của luận án phải là ngôn ngữ phân tích. Nhờ phân tích, luận án của bạn mới có sức thuyết phục người đọc về những luận điểm và luận chứng của bạn về một kết luận nào đó. Nói cách khác, “nghiên cứu vượt khỏi mô tả và cần đến phân tích. Nó tìm kiếm sự giải thích, các mối quan hệ, các so sánh đối chiếu, các dự đoán, khả năng phổ quát hoá và tạo dựng học thuyết.”[7]

    IV. CÁC LOẠI ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU

    Mặc dù có vô số đề tài nghiên cứu, chúng có thể được phân thành năm loại chính, đó là, @ đề tài dựa vào tác phẩm hay tác giả, @ đề tài dựa vào khái niệm, @ đề tài so sánh, @ đề tài siêu-triết học, và @ đề tài liên ngành.

    1. Đề Tài Dựa vào Tác Phẩm hay Tác Giả

    (Thinker or Text-Based Topics)

    a) Chọn tác phẩm hay tác giả nổi tiếng

    Trong trường hợp này, bạn phải tìm ra những vấn đề và góc cạnh còn bỏ dỡ, chưa được khám phá, để làm đề tài nghiên cứu của bạn.

    b) Chọn tác phẩm hay tác giả ít được biết đến

    Trong trường hợp này, bạn có vô số vấn đề và góc độ để viết và khám phá, do đó, cơ hội đóng góp của bạn cho học giới cũng nhiều hơn.

    2. Đề Tài Dựa vào Khái Niệm (Concept-Based Topics)

    Đây là đề tài xoay xung quanh một hay vài khái niệm hoặc thậm chí một hệ thống các khái niệm quan trọng, trình bày một hệ thống tư tưởng hay học thuyết. Các khái niệm càng ít được người biết đến sẽ là những khái niệm có nhiều tiềm năng cung cấp học giới các kiến thức mới về lãnh vực đó. Nếu bạn chọn những khái niệm quen thuộc thì phương pháp và nội dung phân tích của các bạn phải khác hơn các nghiên cứu trước đây về cùng một hay nhiều khái niệm.

    3. Đề Tài So Sánh (Comparative Topics)

    Trong hai loại đề tài trên, loại đầu liên hệ đến văn bản hay tác giả, loại thứ hai liên hệ đến khái niệm (tư tưởng) của một tác giả (nhà tư tưởng) hay của tác phẩm. Cả hai loại này trên thực tế là nền tảng cho các đề tài so sánh. Sự so sánh có thể diễn ra với hai tác giả, hai tác phẩm, hai khái niệm của hai truyền thống khác nhau, và ngay cả của cùng một truyền thống. Có nghĩa là nhà tư tưởng trong truyền thống này có thể được so sánh với nhà tư tưởng thuộc truyền thống khác. Hay hai nhà tư tưởng cùng một truyền thống nhưng có hai học thuyết khác nhau cũng có thể được so sánh trong nghiên cứu. Tương tự, hai hay nhiều văn bản hoặc khái niệm có thể được so sánh với nhau.

    Các chủ đề so sánh thường hấp dẫn người đọc nhưng cũng khó hơn các chủ đề không thuộc so sánh. Nhà nghiên cứu phải nắm vững cả hai hệ thống tư tưởng trước khi tiến hành so sánh những điểm giống cũng như khác nhau của chúng. Khi so sánh, nhà nghiên cứu phải thật vô tư và khoa học. Thái độ lấy một ý thức hệ A để làm trọng tâm trong khi đánh giá một ý thức hệ khác hơn mình hay xem hệ tư tưởng A là chân lý và lấy nó làm tiêu chuẩn đánh giá các hệ tư tưởng còn lại, là điều thường dẫn đến các thành kiến và giải thích sai trong nghiên cứu.

    4. Đề Tài Siêu-Triết Học (Meta-Philosophical Topics)[8]

    Triết học thường khảo cứu hay thảo luận về thực tại, nhận thức và giá trị. Các thảo luận về bản thân triết học được xem là siêu-triết học. Các chủ đề siêu-triết học thường khảo sát về nguồn gốc, tiền giả định, mục đích, phương pháp, kết quả và giới hạn của triết học bằng cách so sánh những thành tựu của các triết gia hay nhà tư tưởng khác nhau.

    5. Đề Tài Liên Ngành (Inter-disciplinary Topic)

    Là đề tài liên hệ đến ít nhất hai ngành học hay lãnh vực nghiên cứu khác nhau. Ngày nay, nhờ sự phát triển của ngành phương pháp nghiên cứu, chúng ta có thể khảo cứu một đề tài dưới góc độ của các ngành học khác liên hệ. Sự liên hệ chủ đề nghiên cứu đến các lãnh vực khác nhau làm cho nội dung cũng như phương pháp tiếp cận trở nên phong phú và hấp dẫn hơn. Chẳng hạn, giới luật trong đạo Phật có thể được tiếp cận qua nhiều góc độ khác nhau, như tôn giáo học (bằng cách so sánh với các điều răn của các tôn giáo khác), đạo đức học (thuộc triết học) và môi trường học (qua giới không sát sanh, vì không sát sanh bao gồm không phá hủy sinh thái của con người và các loại động vật).

    V. CÁC PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
    Trong nghiên cứu có vô số vấn đề cần phải khảo sát. Để giải quyết các vấn đề khác nhau này, nhà nghiên cứu cần vận dụng các phương pháp nghiên cứu khác nhau. Chỉ khi nào, phương pháp nghiên cứu được chọn lựa một cách thích hợp với đề tài thì công trình nghiên cứu mới có thể đem lại những thành quả như mong đợi. Trong phần này, chúng tôi xin giới thiệu sơ lược về các phương pháp thông dụng trong các nghiên cứu thuộc khoa học xã hội.

    1. Phương Pháp Chất Lượng (Qualitative Method)

    Trong phương pháp này, trước nhất nhà nghiên cứu thu thập dữ liệu rồi sau đó tiến hành phân tích chúng. Trên nền tảng này, nhà nghiên cứu công bố các thông tin sự kiện cho xã hội. Nói khác hơn, trong phương pháp này, trước nhất nhà nghiên cứu chọn lựa các cá thể rồi nghiên cứu triệt để các cá thể đó. Sự quan sát được tiến hành từ các sự kiện, rồi kế đến là tiến hành phỏng vấn quần chúng, sau cùng trên nền tảng này, nhà nghiên cứu rút ra kết luận.

    2. Phương Pháp Số Lượng (Quantitative Method)

    Phương pháp này còn được biết đến với tên gọi phương pháp thống kê. Trong phương pháp này, các dữ liệu được đo lường, và chỉ có các đơn vị được chọn lọc là được đo lường mà thôi. Phương pháp này giúp nhà nghiên cứu loại trừ được yếu tố chủ quan ra khỏi phạm vi nghiên cứu. Hạn chế của phương pháp này là bỏ lơ việc cân nhắc chất lượng của các đơn vị được tiến hành, và chỉ đề cập đến số liệu chứ không đến nguyên nhân.

    3. Phương Pháp Nghiên Cứu Hiện Trường (Field Study Method)

    Đây là phương pháp nghiên cứu đòi hỏi sự dấn thân của nhà nghiên cứu ở hiện trường. Nghĩa là, nhà nghiên cứu phải đích thân tham gia hay tham quan từng hiện trường một để quan sát và đúc kết dữ liệu. Phương pháp này rất thích hợp cho những nghiên cứu có chủ đề liên hệ đến tài liệu nguyên thủy. Khó khăn của phương pháp này là thời gian, tài chánh và khí hậu, những trở ngại đôi lúc làm nhà nghiên cứu phải bỏ cuộc nửa đường.

    4. Phương Pháp Thực Nghiệm (Experimental Method)

    Phương pháp này được tiến hành bằng những thực nghiệm trong những tình huống có thể kiểm soát được (controlled situations) và thường chỉ ứng dụng cho các ngành khoa học tự nhiên. Trong nghiên cứu xã hội, phương pháp này có phạm vi rất hạn chế, bởi vì các cá nhân, tánh khí và hành vi ứng xử của họ, phương pháp tiếp cận vấn đề và thái độ đối với người khác dễ dàng thay đổi nhanh chóng. Phương pháp này có tên khác là phương pháp thí nghiệm (laboratory method).

    5. Phương Pháp Khảo Sát (Survey Method)

    Khác với phương pháp thực nghiệm, phương pháp này không cần đến tình huống có thể kiểm soát được. Trong phương pháp này, nhà nghiên cứu phải đến từng hiện trường để tiến hành khảo sát. Phạm vi khảo sát của phương phướng này là không hạn định. Nhà nghiên cứu phải chịu trách nhiệm về việc hình thành giả thuyết và đúc kết kết luận trên nền tảng những gì được khảo sát. Cái khó của phương pháp này không phải là khảo cứu các hiện tượng hay vấn đề xã hội mà là con người.

    6. Phương Pháp So Sánh (Comparative Method)

    Trong nghiên cứu xã hội, phương pháp này đóng vai trò khá quan trọng. Phương pháp này nhằm tiến hành việc so sánh sự hình thành, phát triển cũng như những điểm tương đồng và dị biệt của các cá thể hay phổ quát trong cùng một bối cảnh hay khác bối cảnh của cùng một hay khác xã hội. Phương pháp này giúp xác định các vấn đề của các xã hội khác nhau, để nhằm khắc phục và hỗ trợ cho sự phát triển của cộng đồng.

    7. Phương Pháp Phỏng Vấn (Interview Method)

    Đây là phương pháp cung cấp nhiều dữ liệu sống đáng tin cậy nhất. Dữ liệu được đúc kết của phương pháp này thường bắt nguồn từ những tình huống trao đổi với từng hay nhiều nhân vật khác nhau để đi đến một kết luận. Khó khăn của phương pháp này là nhà nghiên cứu không dễ gì có được nhiều cơ hội cần thiết để tiếp xúc và phỏng vấn nhiều đối tượng, đảng phái khác nhau. Kế đến nữa là các thông tin truyền miệng như vậy đôi lúc khó chính xác và khó đạt được mức độ thấu đáo của vấn đề.

    8. Phương Pháp Bảng Câu Hỏi (Questionnaire Method)

    Phương pháp này đưa ra nhiều câu hỏi và nhằm đạt được các câu trả lời thuận hay nghịch, tích cực hay tiêu cực, có hay không (Positive or negative). Người khảo cứu phải liệt kê tất cả những câu hỏi cần thiết cho từng vấn đề, rồi tiến hành phân phối cho nhiều đối tượng và cá thể khác nhau. Dựa trên nền tảng của những dữ liệu trả lời, nhà nghiên cứu đúc kết kết luận cho một vấn đề nghiên cứu. Phương pháp này có điểm nhược là chưa chắc người trả lời đã nghiêm túc trình bày ý kiến của mình. Kế đến, chưa hẳn người tiến hành hỏi và đúc kết cũng có được thái độ giải thích khách quan cần thiết.

    9. Phương Pháp Nghiên Cứu Tiêu Biểu (Case Study Method)

    Đây là phương pháp nghiên cứu chuyên về một nhân vật, một gia đình, một cộng đồng, một quốc gia, một xã hội được xem như là trường hợp tiêu biểu nhất. Phương pháp này giúp tổ chức các dữ liệu xã hội và duy trì tính hợp nhất của chủ thể được nghiên cứu. Lỗ hỏng của phương pháp này là nếu trường hợp điển hình không được nghiên cứu thấu đáo thì việc loại suy hay ứng dụng cho các trường hợp còn lại sẽ rơi vào sai lầm nghiêm trọng.

    10. Phương Pháp Phân Tích (Analytical Method)

    Theo phương pháp này, nhà nghiên cứu giả định các mẫu lý tưởng nhất định đang hiện hữu trong xã hội rồi tiến hành hoặc phủ định hay xác chứng các giả định đó. Khó khăn của phương pháp này là cái gọi là “mẫu lý tưởng xã hội” không thống nhất trong một xã hội, và hơn nữa, nó khác nhau từ xã hội này sang xã hội khác. Kế đến là, cùng chung một tình huống lý tưởng, thường hai nhà nghiên cứu khác nhau có thể đúc kết thành hai kết luận khác nhau.

    11. Phương Pháp Liên Ngành (Inter-Disciplinary Method)

    Dưới lăng kính nghiên cứu, các vấn đề liên hệ mật thiết với nhau. Chính vì thế, một nghiên cứu có ý nghĩa chỉ có thể được tiến hành khi có nhiều đối tượng tác giả thuộc các lãnh vực khác nhau hợp tác để tìm giải pháp của một vấn đề. Phương pháp này đưa ra tất cả các nguyên nhân hay giả thuyết có thể có từ một vấn đề rồi suy nghiệm nên ứng dụng cách thức nào để giải quyết vấn đề có hiệu quả nhất. Phương pháp này hay nhưng khó thực hiện vì nó đòi hỏi sự tập hợp nhiều chuyên gia của nhiều lãnh vực hay một kiến thức bao quát để tìm giải pháp hiệu quả nhất cho một vấn đề.

    Nói tóm lại, mỗi phương pháp có những ưu khuyết điểm của nó. Tùy theo đối tượng, loại hình, tính chất của vấn đề và mục đích phục vụ, bạn nên chọn phương pháp nghiên cứu thích hợp nhất cho đề tài của riêng mình, để tránh những khuyết điểm có thể có và đạt được thành quả nghiên cứu như mong đợi.

    VI. NGUỒN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

    1. Dẫn Nhập

    Tài liệu là công cụ duy nhất giúp nhà nghiên cứu tiến hành công việc nghiên cứu của mình. Không có tài liệu thì dù có đầu óc vĩ đại cỡ nào đi nữa, nhà nghiên cứu cũng khó có thể cho ra đời các sáng tác tầm vóc và có giá trị siêu thời gian.

    Nguồn tài liệu nghiên cứu có thể bao gồm các loại ấn phẩm, sách vở, báo chí, tự điển các loại (song ngữ, thuật ngữ, đối chiếu, chuyên ngành, bách khoa), ấn phẩm của chính phủ, các bài giảng thuyết, phỏng vấn, băng từ, phim ảnh, bảng biểu đồ, dữ liệu vi tính (đĩa CD hoặc đĩa floppy) và ngay cả các tư liệu chưa xuất bản hay chỉ lưu hành nội bộ.

    2. Tầm Quan Trọng của Tài Liệu

    — Nhà nghiên cứu có thể học hỏi kinh nghiệm phát hiện thông tin, cách sử lý thông tin đó của các tác giả trước.

    — Nhà nghiên cứu có thể tiết kiệm thời giờ trong việc tìm kiếm tài liệu đã được phát hiện.

    — Nhà nghiên cứu có thể phát kiến nhiều tư tưởng mới mẻ và nguyên thủy do sử dụng tài liệu hay.

    — Giúp tác giả có cơ sở đặt giả thuyết, tiến xa các luận điểm và xác định các bằng chứng.

    3. Phân Loại Nguồn Tài Liệu

    Toàn bộ các tài liệu dù dưới hình thức đã xuất bản hay chưa xuất bản được chia thành ba nguồn chính sau đây.

    a) Nguồn Tài Liệu Gốc (Primary Sources)[9]

    Định nghĩa

    Nguồn tài liệu gốc là tất cả sáng tác thuộc nguyên thủy (first-hand accounts) của một tác giả nào đó.

    Phân loại

    Nguồn tài liệu gốc có thể bao gồm các sáng tác nguyên thủy sau đây:

    — Sách nguyên thủy (books).

    — Luận án (theses and dissertations).

    — Chuyên khảo (monographs).

    — Bài nghiên cứu trong tạp chí (articles in journals and magazines).

    — Thư từ (letters), nhật ký (diaries), hồi ký (memoirs), bút ký nhân chứng (eyewitness accounts).

    — Kịch (plays), thơ ca (poems), tiểu thuyết (novels), tự truyện (autobiographies).

    — Tài liệu phỏng vấn (interviews) và bảng câu hỏi (questionnaires), khảo cứu thống kê (statistical investigations).

    — Cáo loại báo cáo và phúc trình (personal reports, reports of government agencies, annual reports).

    — Các loại biên bản (minutes or proceedings).

    — Lời khai hay bản chứng nhận (court testimonies).

    — Công báo (informations and notices), văn kiện (documents), diễn văn (lectures) thông điệp của các cơ quan và tổ chức (messages).

    Chức năng và yêu cầu

    — Về phương diện tham khảo, nguồn tài liệu gốc là đáng tin cậy nhất. Càng tiếp xúc và sử dụng nguồn tài liệu gốc nhiều, nhà nghiên cứu càng có cơ hội đóng góp nhiều khám phá mới cho học giới về lãnh vực nghiên cứu đã chọn.

    — Để có thể sử dụng nhiều tài liệu gốc, nhà nghiên cứu cần có kiến thức rộng về ngôn ngữ gốc của loại tài liệu này. Nghĩa là, nhà nghiên cứu phải thông thạo nhiều cổ ngữ liên hệ đến lãnh vực nguyên cứu nguyên thủy của mình.

    b) Nguồn tài liệu hai (Secondary sources)

    Định nghĩa

    Nguồn tài liệu hai bao gồm các sáng tác dựa trên tài liệu gốc, viết về tài liệu gốc hoặc các bản dịch khác nhau về tài liệu gốc.

    Phân loại

    Nguồn tài liệu hai bao gồm tất cả các sáng tác không thuộc nguyên thủy như sau đây:

    — Các bản dịch (translations).

    — Các bản sớ giải hay chú thích (commentaries).

    — Các bản tóm tắt (summaries).

    — Các mục hay tạp chí điểm sách (reviews of books or researches).

    — Từ điển bách khoa (encyclopedias).

    — Các tạp chí hay sách tóm tắt tác phẩm (abstracts).

    — Các đánh giá (evaluations).

    — Các sách hướng dẫn (guide books).

    — Các ấn bản chứa các thông tin về sự kiện (factual informations).

    Chức năng

    — Về phương diện tham khảo, nguồn tài liệu hai không đáng tin cậy lắm vì có nhiều khả năng sai lầm về cách tiếp cận, cách hiểu và cách giải thích.

    — Do vì nó là nguồn tài liệu không hoàn hảo lắm, nhà nghiên cứu nên sử dụng càng ít càng tốt, và nhất là chỉ sử dụng khi không thể tìm ra nguồn tài liệu gốc, hoặc chỉ để tham khảo tư tưởng thuần túy.

    c) Nguồn tài liệu ba (Tertiary sources)

    Định nghĩa

    Nguồn tài liệu ba bao gồm tất cả các sáng tác dựa trên nguồn tài liệu hai.

    Phân loại

    — Các loại sách giáo khoa.

    — Các loại sách tương tự.

    — Các loại xã luận trên báo, đài.

    Chức năng

    — Các tài liệu có thể cung cấp cho người đọc cái nhìn tổng quát hay bản tóm lược chính xác về một chủ đề nào đó.

    — Có một số sách giáo khoa có tiêu chuẩn của một sách nghiên cứu tầm vóc, cho nên nó vẫn được xem là các tác phẩm tham khảo thẩm quyền trong trường hợp này.

    — Tuy nhiên, bạn nên hạn chế tối đa việc sử dụng các tài liệu này trong các trích dẫn của bạn. Ngoại trừ, trong trường hợp nguồn tài liệu gốc đã mất hoàn toàn hoặc không thể tham khảo được, bạn phải dựa chính yếu nghiên cứu của bạn vào nguồn tài liệu hai, lúc ấy bạn phải chấp nhận sử dụng đến nguồn tài liệu thứ ba này.

    VII. TIẾN TRÌNH NGHIÊN CỨU[10]

    Tiến trình nghiên cứu, còn được gọi là các giai đoạn quản trị của một công trình nghiên cứu, có thể được chia thành ba giai đoạn chính, đó là, giai đoạn chọn lựa và sưu tầm, giai đoạn tổ chức và giai đoạn trình bày.

    Chọn lựa và sưu tầm bao gồm trước nhất là chọn lựa đề tài nghiên cứu thích hợp và tiến hành thu thập các dữ liệu làm nền tảng cho bài khảo cứu hay luận án. Tổ chức là công việc đặt tất cả tài liệu trong mối tương quan có ý nghĩa. Trình bày là việc chuyển các tài liệu đã được tổ chức thành một tác phẩm hoàn chỉnh.

    Ba giai đoạn này tương quan mật thiết với nhau, và do đó, nếu thiếu một trong ba, công tác khảo cứu không thể mang lại kết quả như mong đợi.

    1. Chọn Lựa và Sưu Tầm

    — Đề tài chọn lựa phải được cân nhắc kỹ lưỡng dưới các tiêu chí sau đây: chủ đề mới mẻ và có giới hạn, có người hướng dẫn, thuộc về sở thích và sở trường, đủ khả năng xử lý, có đủ tài liệu và phương tiện nghiên cứu, có tiềm năng đóng góp cho học giới và nhà nghiên cứu có thể hoàn thành trong thời gian ấn định.

    — Các nguồn tài liệu gốc và hai phải tương đối đầy đủ. Người nghiên cứu phải xác định được xuất xứ của nguồn tài liệu và hiện chúng được tàng trữ ở thư viện nào, và nếu muốn mua để làm tài liệu riêng thì có thể mua ở đâu.

    — Người nghiên cứu không chỉ tư duy về đề tài của mình mà còn phải nghĩ đến đáp án giả định (provitional solution) hay các giả thuyết (hypothesis). Giả thuyết, như tên gọi của nó trong tiếng Anh, là cái ít hơn (hypo-) một kết luận đã hình thành (thesis). như vậy, giả thuyết cũng là kết luận hay giải pháp giả định cho vấn đề của luận án. Giả thuyết mặc dù chỉ là các giải pháp giả định nhưng lại là tiêu chí chuẩn mực cho việc sưu tầm tài liệu thích hợp.

    — Các sự kiện hay dữ liệu được thu thập cần xác chứng giả thuyết đưa ra. Nếu không, nhà nghiên cứu phải thay thế giả thuyết đó bằng một giả thuyết hoàn chỉnh và khả thi hơn.

    2. Tổ Chức Tài Liệu

    — Sau khi đã thoả mãn về số lượng tài liệu sưu tập, nhà nghiên cứu cần chuyển hướng đầu tư từ chọn lọc và sưu tầm sang mối tương quan đa phương của chúng. Các tài liệu cần thêm thì phải tìm cho ra để bổ sung cho thích đáng với cấu trúc của nhu cầu tổ chức.

    — Người nghiên cứu tiến hành phân bổ thời giờ cho các phương diện chính của vấn đề bằng cách đọc tất cả các tài liệu liên hệ đến chúng rồi tiến hành xử lý chúng trong một cấu trúc ghi chép có logic, phê bình và phân tích.

    — Các vấn đề của bài khảo luận hay luận án được trình bày trước nhất bằng các phán đoán (statements and judgements) về những sự kiện chưa được biết tới trong văn học của lãnh vực, hơn là chỉ mô tả chúng (description). Các phán đoán này phải được trình bày bằng phong cách phê bình có logic (logically critical) và được hỗ trợ bằng nhiều luận điểm (arguments) thích hợp.

    — Các giả thuyết và luận điểm phải thống nhất, không mâu thuẫn nhau để đi đến một kết luận, được xem như kết quả giả định của luận án. Để kết quả giả định này vững vàng và thuyết phục người đọc, nhà nghiên cứu phải liên hệ chặt chẽ kết cấu của các chương trong một tổng thể không thể phân cách và nhằm cùng một mục đích cung ứng những luận chứng cho giải pháp nêu ở kết luận đó.

    3. Trình Bày

    a. Phần dẫn nhập

    Bao gồm trang bìa (cover-page), trang để trống (blank page), trang tựa đề (title-page), trang xác nhận của giáo sư hướng dẫn và giáo sư trưởng bộ môn (certificate), trang tuyên bố của nghiên cứu sinh (declaration), lời đầu sách (preface), lời cảm ơn (acknowledgements), mục lục (table of contents), bảng liệt kê các bảng biểu, hình ảnh minh họa, nếu có (list of tables, figures and illustrations or plates) và bảng viết tắt (abbreviations).

    b. Phần văn bản (Texts)

    Bao gồm chương dẫn nhập (introduction), các chương nội dung và chương kết luận hay tóm tắt (conclusion or summary).

    c. Phần tham khảo (References)

    Bao gồm phụ chú (appendixes), bảng chú giải thuật ngữ hay thuật ngữ đối chiếu (glossaries), thư mục tham khảo (bibliography) và bảng chú dẫn mục từ (indexes).

    Lưu ý: Phần trình bày nêu trên ứng dụng cho công trình nghiên cứu thuộc luận văn hay luận án. Đối với bài khảo luận thông thường, các chi tiết nêu trên không cần thiết lắm, mà chỉ cần bao gồm bốn phần, đó là, phần dẫn nhập, phần thân bài, phần kết luận và tài liệu tham khảo.

    VIII. CÁC THÀNH PHẨM NGHIÊN CỨU

    Nếu nghiên cứu là một công trình thì thành quả của nó được xem là thành phẩm nghiên cứu. Thành phẩm nghiên cứu thường được trình bày dưới hình thức các tập phúc trình. Tùy theo bản chất, loại hình cũng như chiều dài hay số trang của các tập phúc trình này, mà các thành phẩm nghiên cứu đó được phân biệt và gọi bằng các tên gọi khác nhau, như biên khảo, tiểu luận, bài khảo luận, chuyên khảo, luận văn và luận án.

    1. Biên Khảo (Writings)

    Là thuật ngữ chỉ chung cho các thành phẩm nghiên cứu không mang tính chất học đường, không mang tính cách thi cử hay đệ trình để được cấp văn bằng hay chứng chỉ. Biên khảo là bài nghiên cứu hay biên khảo nói chung nhằm công bố, cung cấp hay phổ biến kiến thức về một vấn đề nào đó.

    Vì không mang tính cách học đường và là dạng khảo cứu nói chung, biên khảo không có giới hạn về số trang và phạm vi nghiên cứu. Nó có thể là một bài viết về một vấn đề trong vài trang và cũng có thể là một quyển sách gồm nhiều vấn đề và lãnh vực khác nhau, dày đến vài ngàn trang.

    2. Bài Luận Văn (Essays)

    Là các bài viết ngắn (essays) của các sinh viên ở cấp cử nhân và cao học. Nó chỉ là bài viết ngắn trong một học phần của một cấp học nào đó. Số trang của bài luận văn thường có giới hạn trong vòng 20 trang trở lại. Bài luận văn là thành phẩm nghiên cứu nhỏ nhất trong các thành phẩm nghiên cứu mang tính học đường.

    3. Bài Khảo Luận (Writen Assignments)

    Là thuật ngữ chỉ cho các thành phẩm nghiên cứu mang tính học đường. Nó có thể là một bài nghiên cứu bắt buộc trong một học phần của một cấp học nào đó như essay hoặc cũng có thể là các bài nghiên cứu thuần túy (research paper) hoặc là bài nghiên cứu bắt buộc giữa hay cuối một học kỳ (term paper) của một khóa học nhất định. Số trang của bài khảo luận thường nằm trong giới hạn 50 trang trở lại.

    4. Chuyên Khảo (Monograph)

    Chuyên khảo là khảo cứu chuyên về một chủ đề hay một lãnh vực nào đó. Đây là bài nghiên cứu chuyên ngành không giới hạn số trang. Nó có thể là bài khảo cứu chuyên ngành cho mục đích học đường nhưng cũng có thể cho các mục đích nghiên cứu thuần túy.

    5. Luận Văn Cử Nhân (Graduation Treatise)

    Còn được gọi bằng các tên khác nhau như luận văn tốt nghiệp, luận văn tốt nghiệp cử nhân hay tiểu luận tốt nghiệp. Luận văn cử nhân là một tập luận án nhỏ về phạm vi và chiều sâu của vấn đề và nhỏ về lượng (tức trong vòng 100 trang trở lại). Thời gian tiến hành cho luận văn cử nhân thường từ một tháng đến ba tháng, tùy theo trường đại học. Luận văn cử nhân thường được tiến hành vài tháng trước khi kết thúc năm học cuối. Đề tài luận văn tốt nghiệp thường do sinh viên tự chọn với sự cố vấn của giáo sư hướng dẫn. Vì số trang và thời gian có giới hạn, sinh viên nên chọn những đề tài hẹp về phạm vi để có dịp chuyên sâu vào một vấn đề hơn là chọn các đề tài rộng.

    6. Luận Án (Dissertation / Thesis)

    Luận án là thành phẩm nghiên cứu cao cấp của các cấp học từ cao học trở lên. Luận án có ba loại, đó là, luận án cao học, luận án phó tiến sĩ và luận án tiến sĩ. Luận án phó tiến sĩ chỉ có ở những nước chịu ảnh hưởng hệ thống giáo dục Anh và Liên-xô.

    Trên căn bản, luận án cũng là tập phúc trình kết quả của một công trình nghiên cứu nguyên thủy về một chủ đề nào đó. Đề tài của luận án thường phải mới và có tiềm năng đóng góp những thông tin hay kiến thức mới mẻ cho lãnh vực nó trực thuộc, hay ít nhất trình bày những học thuyết mới từ những vấn đề cũ.

    Từ luận án của tiếng Việt được sử dụng đồng nghĩa vói hai từ ‘dissertation’ và ‘thesis’ trong tiếng Anh. Thesis dissertation được sử dụng đồng nghĩa trong hệ thống giáo dục Mỹ,[11] để chỉ cho luận án cao học và tiến sĩ, và ngược lại. Trong hệ thống giáo dục Anh, thesis thường được sử dụng cho luận án tiến sĩ, trong khi dissertation được sử dụng cho luận án cao học (đối với một số bộ môn)[12] hay luận án phó tiến sĩ mà thôi.

    Về thời hạn qui định, thời gian tối thiểu hay sớm nhất cho một luận án cao học hay phó tiến sĩ được nộp để được xét duyệt và cấp văn bằng là ba tháng hay sáu tháng tùy theo trường; trong khi đối với luận án tiến sĩ là hai năm. Thời hạn trễ nhất phải nộp luận án tiến sĩ là năm năm theo hệ thống Anh, là mười năm theo hệ thống Mỹ,[13] mặc dù có một số trường ấn định tối đa là ba năm, và một số trường khác lại cho gia hạn thêm một hai năm nữa, sau khi đã hết thời hạn ấn định.

    Về hình thức, luận án có số trang nhiều hơn các bài khảo cứu, khảo luận, tiểu luận và luận văn cử nhân. Mặc dù không có qui định bắt buộc về số trang tối thiểu của luận án, các luận án thường có số trang tối thiểu là 150 trang hay nhiều hơn. Có nhiều luận án dày hơn 500 trang khổ A-4. Tốt nhất, bạn nên theo qui định mặc ước hay truyền thống của trường mà bạn đăng ký học, để tránh những trường hợp phải cắt ngắn hay viết thêm sau khi luận án đã hoàn tất.

    [1] The Oxford Advanced Learner’s Dictionary of Current English. (London: Oxford University Press, 1980), p. 855.

    [2] Estelle M. Phillips and D. S. Pugh., How to Get a Ph. D., a Handbook for Students and Their Supervisors. (Delhi: UBSPD, 1996), p. 41.

    [3] Ibid.

    [4] Xem chi tiết của phần luận chứng này ở C. C. Crawford., The Technique of Research in Education. (Boston: Houghton Mifflin Company, 1928), chs. 1-2.

    [5] S. K. Das., An Introduction to Rersearch. (Calcutta, Delhi: A. Mukherjee & Co. Pvt. Ltd., 1986), p. 3.

    [6] Xem chi tiết luận điểm này ở tác phẩm của Roger Burlingame., Inventors Behind the Inventor. (New York: 1947), chs. 3-5.

    [7] E. M. Phillips and D. S. Pugh., op. cit., p. 42.

    [8] T. P. Ramachadra., The Method of Research in Philosophy. (Madrass: Radhakrishnan Institute for Advanced Study in Philosophy, University of Madrass, 1984), pp. 12-3.

    [9] Xem thêm phần VI. A. của chương “Thư mục tham khảo.”

    [10] Chi tiết của phần này được trình bày ở chương “Tiến trình soạn thảo bài khảo luận, luận văn và luận án.”

    [11] Xem Janathan Anderson., Thesis and Assignment Writing. (Delhi: Wiley Eastern Pvt. Ltd., 1971), pp. 4-5; tương tự xem S. K. Das., An Introduction to Rersearch. (Calcutta, Delhi: A. Mukherjee & Co. Pvt. Ltd., 1986), p. 4.

    [12] Theo hệ thống giáo dục Anh, từ cấp cao học trở xuống, thông thường sinh viên không phải làm luận án cuối khóa mà chỉ thi viết thôi. Trong một số trường theo hệ thống này, luận án cuối khóa được áp dụng cho một số bộ môn như ngôn ngữ học, luật học, giáo dục học, y khoa v.v…

    [13] E. M. Phillips and D. S. Pugh., Op. Cit., p. 122.
     
    Đang tải...
  2. admin

    admin Administrator Staff Member

    Tham gia :
    16/04/2018
    Bài viết:
    14.278
    Lượt thích:
    189
    Điểm thành tích:
    125.887
    CẨM NANG VIẾT
    KHẢO LUẬN, LUẬN VĂN VÀ LUẬN ÁN

    Thích Nhật Từ
    CHƯƠNG II
    TIẾN TRÌNH SOẠN THẢO
    KHẢO LUẬN, LUẬN VĂN VÀ LUẬN ÁN
    (PLANNING THE ASSIGNMENT AND THE THESIS)


    I. DẪN NHẬP


    Ở năm thứ nhất và thứ hai của cấp cử nhân, bài khảo luận thường được chọn trong số các chủ đề do thầy giáo gợi ý. Vào những năm cuối của cử nhân và ở cấp cao học và tiến sĩ, chủ đề nghiên cứu của bài khảo luận, luận văn tốt nghiệp và luận án thường do chính sinh viên hay nghiên cứu sinh chọn mặc dù có tham khảo với giáo sư hướng dẫn hay cố vấn. Dù là được gợi ý hay tự lựa chọn, các chi tiết sau đây cần phải ghi nhớ khi tiến hành viết khảo luận hay luận án.

    1. Định nghĩa vấn đề.
    2. Chọn đề tài.
    3. Giới hạn đề tài.
    4. Lập chương trình làm việc.
    5. Tham khảo tài liệu.
    6. Phác thảo dàn bài sơ bộ.
    7. Phác thảo thư mục làm việc.
    8. Đọc văn bản và ghi chú tài liệu.
    9. Phân tích tài liệu ghi chép.
    10. Phác thảo dàn bài chi tiết.
    11. Viết bản thảo.
    II. ĐỊNH NGHĨA VẤN ĐỀ
    “Định nghĩa vấn đề” liên hệ đến việc xác định đâu là vấn đề bài khảo luận hay luận án cần thực hiện. Sách mà bạn cần tham khảo trước nhất thường là quyển tự điển hay, để giúp bạn biết một cách chính xác nội dung và ý nghĩa của các từ quan trọng. Sau đây là ý nghĩa của một số từ mô tả phương pháp của vấn đề được nghiên cứu mà bạn nên nắm vững.

    a) Phân tích: khảo sát các yếu tố khác nhau của một tổng thể đề tài và mô tả tính tương quan của chúng.

    b) So sánh: khảo sát các đặc điểm của các đối tượng khảo cứu với mục đích đưa ra các điểm giống và khác nhau của chúng.

    c) Đối chiếu: khảo sát các đặc điểm của các đối tượng khảo cứu với mục đích nhằm đưa ra các điểm khác nhau mà thôi.

    d) Định nghĩa: nêu ra ý nghĩa và nội dung của một sự vật hay sự việc hay trình bày nội dung của các thuật từ tham khảo.

    e) Mô tả: giải thích về một vấn đề nào đó.

    f) Thảo luận: trình bày các phương diện khác nhau của vấn đề.

    g) Dẫn chứng: đưa ra một danh sách các vấn đề có cùng nội dung hay ý tưởng để minh họa hay chứng minh một luận điểm nào đó.

    h) Đánh giá: khảo sát các mặt khác nhau của vấn đề rồi tiến hành phán đoán.

    i) Phê bình: phán đoán, tán thưởng những điểm hay hoặc chỉ trích những điểm yếu.

    j) Minh họa: đưa ví dụ, giải thích, vẽ hình minh chứng.

    k) Chứng minh: trình bày kết luận về một vấn đề bằng các luận điểm logic và biện chứng.

    l) Tóm tắt: khảo sát các điểm trọng tâm một cách vắn tắt.

    Bất cứ chủ đề nào cũng có các từ điển chuyên nghành hay tự điển thuật ngữ của chúng. Nếu bạn muốn nghiên cứu chuyên sâu về một đề tài nào đó, bạn sẽ nhận thấy được tầm quan trọng của việc sử dụng các từ điển như vậy. Tra khảo tự điển để định nghĩa các thuật từ được sử dụng trong bài khảo luận hay luận án là điều không thể thiếu đối với khảo cứu.

    III. CHỌN ĐỀ TÀI
    1. Dẫn Nhập

    Kiến thức thì có giới hạn trong khi đề tài cần được nghiên cứu thì không bờ bến. Do đó, chọn được đề tài có giá trị và thích hợp với trình độ, khả năng, sở trường của nhà khảo cứu là một việc không phải dễ dàng. Kiến thức toàn diện hay bao quát về một chủ đề là điều cần thiết cho một đề tài có thể thực hiện được trong một bối cảnh và điều kiện cho phép. Càng biết rộng và sâu về đề tài càng giúp cho nhà khảo cứu nhận dạng dễ dàng các góc cạnh và lãnh vực của vấn đề để tiến hành khảo cứu một cách có hiệu quả.

    Điều quan trọng kế là nhà khảo cứu phải tự hỏi rằng chủ đề mà mình sẽ tiến hành khảo cứu thực sự có giá trị hay không, ít nhất về phương diện đóng góp những kiến thức mới cho lãnh vực đang nghiên cứu, và bài khảo cứu hay luận án của mình có thể làm được chức năng hay mục đích đó hay không? Nếu câu trả lời là ‘không’ thì bạn nên chọn đề tài khác dễ hơn, thích hợp hơn và có thể thực hiện được trong tiêu chuẩn vừa nêu.

    Chính vì có khoảng cách rất lớn giữa những điều mong ước, hy vọng, nỗ lực và thực tế, các nhà nghiên cứu kinh nghiệm thường khuyên những ai mới bắt đầu công việc khảo cứu không nên chọn các đề tài mang tính cách chuyên sâu, thuộc kỹ thuật, thiếu tài liệu cần thiết, quá rộng hay quá hạn chế hay những đề tài gây nhiều tranh luận.

    2. Nguồn Tài Liệu của Đề Tài Khảo Cứu

    Một trong những nguồn tài liệu tốt nhất cho các đề tài khảo cứu có giá trị và thích hơp là các nhà nghiên cứu, các chuyên gia về lãnh vực mà bạn đang nghiên cứu. Các chuyên gia và các nhà nghiên cứu này là kho tàng về các chủ đề nghiên cứu về một lãnh vực hay bất cứ góc cạnh nào thuộc lãnh vực đó. Tham vấn họ, bạn sẽ biết được những gì cần tiến hành nghiên cứu và nghiên cứu bằng cách nào, với công cụ nghiên cứu gì?

    Nguồn tài liệu kế đến là các sáng tác mới nhất và gần đây nhất trong các tạp chí chuyên nghành liên hệ đế lãnh vực của chủ đề nghiên cứu của bạn. Sự nghiên cứu về văn học hiện hành của đề tài hay lãnh vực bạn chọn không những giúp cho bạn biết được đâu là vấn đề hay phương diện cần được nghiên cứu mà còn đề nghị cho bạn các vấn đề cần những nghiên cứu chuyên sâu hơn.

    3. Tiêu Chí Chọn Đề Tài

    Sau khi bạn đã giới hạn phạm vi sở thích của nghiên cứu và đã xác định được lãnh vực hay vấn đề cho các nghiên cứu mang tính khả thi, bạn cần cân nhắc một số câu hỏi sau đây:

    a) Chủ đề có mới mẻ không?

    Mặc dù không thể có khái niệm “hoàn toàn mới” theo nghĩa chưa từng có trước đây bao giờ, bạn cũng nên cân nhắc xem chủ đề mà bạn sẽ tiến hành nghiên cứu có mới mẽ không. Thật là vô ích nếu như bạn bỏ ra vài tháng hay vài năm để đầu tư vào một chủ đề không có gì đóng góp cho học giới, hay ít nhất có những điểm khác biệt với những nghiên cứu trước đó. Do đó, nếu đề tài bạn chọn không mới thì ít nhất nó phải có những đóng góp mới hay đặt lại những vấn đề về những nghiên cứu trước và đưa ra giả thuyết mới hay giải pháp mới cho vấn đề cũ.

    b) Coù giáo sư hướng dẫn thích hợp hay không?

    Câu hỏi dường như phản ánh thái độ hoài nghi về khả năng chuyên môn của các thầy cô giáo nhưng lại là câu hỏi vô cùng cần thiết. Vì không phải lãnh vực nào cũng có những giáo sư thích hợp về phương diện kiến thức chuyên sâu, và hơn nữa, không phải giáo sư chuyên ngành nào cũng thích đề tài bạn chọn để sẵn sàng hướng dẫn bạn. Nếu không có người hướng dẫn thích hợp thì bạn nên chọn đề khác hoặc bạn nên tìm người hướng dẫn ở các học viện, viện nghiên cứu khác làm giáo sư hướng dẫn cho bạn.

    c) Bạn có thật sự thích chủ đề đó không?

    Chỉ có sở thích mới có thể giúp bạn vượt qua tất cả những khó khăn trong khi tiến hành nghiên cứu đề tài đã chọn. Do đó, bạn phải cân nhắc kỹ lưỡng. Nếu câu trả lời là ‘không’ thì tốt nhất bạn nên chọn đề tài khác.

    d) Bạn có đủ khả năng khảo cứu chủ đề đó không?

    Không phải bất kỳ những gì bạn thích bạn đều có thể thực hiện được chúng trong đời. Trong nghiên cứu cũng vậy. Có nhiều đề tài bạn thích nhưng bạn sẽ không đủ sức để thực hiện chúng một cách tuyệt hảo do những những hạn chế về kiến thức chuyên môn, kiến thức liên ngành, kiến thức ngoại ngữ và cổ ngữ. Do đó, bạn nên chọn đề tài nào thích hợp với sở thích và khả năng của bạn mà thôi.

    e) Chủ đề đó có thể hoàn tất trong một thời gian ấn định không?

    Có nhiều chủ đề đòi hỏi nhiều thời giờ, do những khó khăn về việc tìm tài liệu, kiến thức chuyên môn và các công cụ nghiên cứu cần thiết. Do đó, bạn nên giới hạn đề tài để công trình nghiên cứu của bạn có thể hoàn thành đúng thời gian dự định hay cho phép.

    f) Các công cụ cần thiết có đủ hay không?

    Các công cụ chuyên môn và đắc tiền thường cần thiết cho nhiều nghiên cứu, nhất là lãnh vực khoa học. Ngoại trừ bạn có được đảm bảo về sự có đủ các thiết bị cần thiết cho công trình nghiên cứu khi cần đến thì bạn hãy nghĩ đến việc thực hiện bằng không hãy chọn đề tài khác.

    g) Các phương tiện thư viện có đầy đủ không?

    Các phương tiện thư viện không chỉ cần thiết cho các nghiên cứu thuộc văn học hay phân tích mà còn cần thiết cho tất cả các loại hình nghiên cứu. Một đề tài có thể được xem là không thích ứng nếu nó không có đủ các tài liệu nghiên cứu thích ứng, và do đó không nên tiến hành các đề tài như vậy.

    h) Đề tài nghiên cứu có thật sự có ý nghiã không?

    Đây là câu hỏi khó trả lời bởi vì, trong ý nghĩa rộng nhất, không có gì được gọi là ‘tiêu chuẩn’ để đánh giá và không có cái gọi là ‘giá trị cố định.’ Điều không quan trọng có thể trở nên quan trọng và có ý nghĩa, nếu nhà nghiên cứu biết cách tận dụng, khai thác, triển khai.

    Ngoài ra, bạn cũng nên cân nhắc các yếu tố thời gian, nỗ lực và tài chánh trong khi tiến hành chọn và viết về một đề tài.

    IV. GIỚI HẠN VỀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU CỦA ĐỀ TÀI
    Lỗi thông thường mà các bài khảo luận cấp cử nhân cũng như các luận văn tốt nghiệp và luận án hay vấp phải là quá tham vọng và chọn đề tài với phạm vi quá rộng. Đề tài rộng không những không làm cho chủ đề nghiên cứu được nổi bật hay trở nên chuyên sâu mà còn làm cho nghiên cứu sinh khó có thể hoàn tất trong thời gian cho phép. Do đó, tốt nhất trước khi tiến hành nghiên cứu, sinh viên và nghiên cứu sinh nên bỏ ra một vài giờ để suy nghĩ và cân nhắc kỹ lưỡng trong việc giới hạn phạm vi nghiên cứu của mình.

    Giới hạn đề tài không có nghĩa là tỉnh lược các thông tin quan trọng, bỏ lửng các chi tiết hay chỉ trình bày vài phần nào đó của luận điểm. Một chủ đề hay đề tài chỉ có thể được giới hạn bằng cách giảm bớt đi phạm vi nghiên cứu của nó. Chẳng hạn, bạn hãy xem xét các chủ đề sau đây:

    1. Triết học tâm trong kinh Lăng-già Tâm Aán.

    2. Triết học tâm trong các kinh ( thuộc hệ) Phương Quảng.

    3. Triết học tâm trong kinh điển Đại Thừa.

    Chủ đề thứ nhất có phạm vi nghiên cứu tương đối vừa phải cho một bài khảo luận hay luận án. Chủ đề thứ hai quá rộng cho bài khảo luận. Chủ đề thứ ba không chỉ rộng cho bài khảo luận, luận văn tốt nghiệp mà còn cho cả luận án tiến sĩ.

    Thất bại trong việc giới hạn phạm vi nghiên cứu sẽ có thể dẫn đến các thất bại về thời gian, nội dung trình bày và chất lượng của nghiên cứu. Việc xác định rõ ràng giới hạn nghiên cứu không chỉ có giá trị ngược lại mà còn cho thấy được tính tiêu chuẩn của một công trình mang tính học giả.

    V. LẬP CHƯƠNG TRÌNH LÀM VIỆC
    Phác thảo thời khóa biểu cho chương trình làm việc là việc cần thiết, giúp nhà nghiên cứu hoàn thành công trình trong thời gian dự kiến. Sự phân bố thời hạn làm việc cho từng tiến trình của tác phẩm cần phải thích hợp. Chỉ có sự phân bố thời gian làm việc thích hợp mới đem lại kết quả nghiên cứu như mong đợi. Thông thường bảng thời gian cho công việc nghiên cứu có thể chia theo tỷ lệ sau đây:

    1. Định nghĩa và giới hạn vấn đề, tham khảo nguồn tài liệu và góp nhặt tài liệu ..... 30%

    2. Đọc và ghi chú tài liệu ……………………………………………………… 30%

    3. Viết bản thảo lần thứ nhất ……………………………………………..…… 20%

    4. Hiệu đính, ghi chú thích, tham khảo và viết bản thảo cuối cùng, dò bản in thử…………………………..………………………………………...……..... 20%

    Lưu ý, thời khóa biểu làm việc không nhất thiết cố định như bảng gợi ý trên. Nếu bạn đã có sẵn tài liệu thích ứng thì thời gian đầu tư cho việc tham khảo, chọn lọc có thể giảm đi và thay vào đó bạn có thể đầu tư thời gian cho các phần khác.

    VI. THAM KHẢO TÀI LIỆU SƠ KHỞI
    Sách tham khảo thường cung cấp cho bạn những thông tin cần thiết về đề tài. Để có được một dàn bài lý tưởng, thích ứng, bạn nên đến các thư viện tìm đọc mục lục hoặc bảng chú dẫn các mục từ của các sách vở (cùng đề tài bạn đang nghiên cứu) từ các danh mục hoặc tìm thẳng trên các kệ sách, nếu thư viện sắp xếp đúng phân loại và có ngăn nắp. Nghĩa là bạn nên nhớ hệ thống phân loại sách của Dewey[1] để bạn dễ dàng tìm sách có chung số phân loại. Ví dụ, nếu chủ đề nghiên cứu của bạn thuộc lãnh vực đạo đức học đông phương thì bạn chỉ việc đến số phân loại từ 180 đến 190 rồi tìm thẳng trên kệ sách.

    Ngoài ra, các từ điển, bách khoa, sổ tay, sách hàng năm, các bảng chú dẫn, các sách tóm tắt luận án và sách, tạp chí và báo chí…cũng có thể cung cấp các nguồn thông tin thích ứng cho chủ đề nghiên cứu của các bạn.

    VII. PHÁC THẢO DÀN BÀI SƠ BỘ
    Sau khi tìm và tham khảo các nguồn tài liệu liên hệ đến đề tài từ thư viện hoặc các tư liệu cá nhân, bạn có thể dễ dàng phác thảo dàn bài tạm cho nghiên cứu của bạn. Có một số sinh viên và nghiên cứu sinh phác thảo dàn bài trước sau đó tìm đọc sách ở thư viện sau. Theo kinh nghiệm cá nhân của chúng tôi, tham khảo thư viện trước rồi phác thảo dàn bài sau thường chu đáo hơn và toàn diện hơn. Bởi lẽ lúc đó bạn sẽ có thể quyết định giới hạn đề tài và chọn hướng nghiên cứu nào, sau khi đã nắm vững có bao nhiêu tài liệu thích ứng, có bao nhiêu hướng nghiên cứu trước đây về cùng một chủ đề, và nghiên cứu của bạn có gì mới, đóng góp cho thế giới học thuật.

    Trong dàn bài sơ thảo, bạn phải nêu bật được đâu là vấn đề chính và phụ cũng như các chi tiết cần có của các vấn đề chính và phụ đó. Tùy theo loại hình văn bản, chủ đích nghiên cứu và mục đích phục vụ, bạn có thể phác thảo thành nhiều hay ít chương mục.

    Thông thường, đối với bài khảo luận, các yếu tố cần có để phác thảo dàn bài là chương Þ mục Þ tiết Þ đoạn. Đối với luận văn hay luận án, các yếu tố trên lại được chia thành nhiều chi tiết hơn, như quyển Þ tập Þ phần Þ chương Þ mục Þ tiết Þ đoạn Þ tiểu đoạn... Đánh số la-mã (I, II, III...) cho “Phần và Chương.” Đánh số á-rập (1, 2, 3...) cho các “mục của chương.” Đánh các mẫu tự nhỏ (a, b, c...) cho các “tiết, đoạn và tiểu đoạn.” Tuy nhiên, bạn cũng có thể đánh số á-rập cho các “tiết, đoạn và tiểu đoạn.”[2]

    VIII. PHÁC THẢO THƯ MỤC LÀM VIỆC
    1. Mô Tả: Thư mục làm việc là thư mục cá nhân do chính các bạn ghi chú bằng các thẻ giấy dày. Mỗi loại hình sách vở có một phong cách trình bày thư mục riêng.[3]

    2. Chi Tiết của Thư Mục Làm Việc: Ngoài các chi tiết tên tác giả, tựa đề tác phẩm, nơi ấn bản, nhà xuất bản và năm xuất hay tái bản, thư mục làm việc của các bạn còn ghi thêm 4 chi tiết sau đây: số thư tịch (call number) + tên thư viện hay nơi có sách này + ghi chú về nội dung của tác phẩm + số chương/mục/trang cần + số thứ tự của thẻ thư mục.

    a) Số thư tịch: Đây là số phân loại sách của thư viện, thông thường theo hệ thống phân loại của Dewey. Số này được ghi ở trên góc trái của thẻ thư mục.

    b) Họ tác giả viết tắt: Đối với các tác giả Âu Mỹ, họ tác giả được viết tắt bằng chữ cái đầu hay vần đầu của họ tác giả. Đối với các tác giả người Việt Nam và Trung Quốc, vì họ tác giả luôn là đơn âm nên nó phải được ghi đầy đủ. Vị trí của ‘họ viết tắt’ này được ghi ngay bên dưới số thư tịch.

    c) Họ tên + tựa đề tác phẩm: Nên viết đủ họ và viết tắt tên và chữ lót bằng chữ in hoa. Tựa đề tác phẩm được gạch dưới để dễ nhận dạng.

    d) Nơi, nhà và năm xuất bản: Được viết thành một hàng riêng.

    e) Ghi chú: Bao gồm tên cơ quan có tài liệu, nội dung quan trọng của tác phẩm, chương/ mục/phần/trang cần tham khảo.

    f) Số thứ tự của thẻ thư mục: Đây là số thứ tự của các thẻ thư mục của chính tác giả (ở đây là các bạn) cho một đề tài nào đó. Số thứ tự này được ghi ở góc phải của thẻ. Mục đích của thẻ nhằm giúp cho người nghiên cứu biết được số lượng của tác phẩm tham khảo có được, và về sau khi ghi chú, tác giả chỉ cần viết tắt số thứ tự của thẻ cho các nội dung cần ghi chú mà không phải ghi chép lại toàn bộ các chi tiết từ a đến e của phần này.

    3. Giấy, Khổ và Cách Trình Bày: Giấy cho thẻ thư mục tốt nhất là giấy dày. Khổ của thẻ thư mục của bạn nên theo khổ thông dụng là 7x12 cm. Khổ này gọn và do đó rất tiện cho bạn mang theo bất cứ nơi nào và dễ dàng cất chứa hay bổ sung về sau. Trong mỗi thẻ thư mục, bạn chỉ nên ghi một tài liệu tham khảo mà thôi.

    4. Mẫu Trình Bày

    [​IMG]



    IX. ĐỌC VÀ GHI CHÚ TÀI LIỆU
    1. Đọc Tài Liệu

    a) Hai Cách Đọc

    Sau khi phác thảo thẻ thư mục hay thư mục làm việc, công việc kế đến của nhà nghiên cứu là đọc các tài liệu và ghi chú tài liệu. Tài liệu có thể được đọc cho từng chương, từng vấn đề hay một lượt cho tất cả các vấn đề nội dung nghiên cứu của tác phẩm.

    ¾ Thường cách đọc tài liệu cho từng chương hay từng vấn đề giúp tác giả tập trung và dễ dàng ghi chú cũng như viết cho từng chương hơn.

    ¾ Cách đọc và ghi chép tài liệu một lượt cho tất cả các vấn đề nội dung nghiên cứu đòi hỏi nhà nghiên cứu phải có kiến thức bao quát và khả năng phân tâm để phân loại chủ đề và tư tưởng của tài liệu trong khi đọc.

    Tùy theo sở thích và sở trường, bạn có thể chọn một trong hai cách trên. Một điều lưu ý quan trọng là đừng bao giờ “tham lam” trong khi đọc. Nghĩa là đừng bao giờ đọc hết một tác phẩm trong một mạch. Đọc như vậy, bạn sẽ không nhớ được gì, và do đó, cũng không thể ghi chú được cái gì. Hãy đọc có suy tư, phản ánh văn bản và ghi chú khi thấy cần.


    b) Ba thái độ đọc: Có ba thái độ của người đọc phản ánh những gì được tác giả viết, đó là, đọc với thái độ tin toàn bộ những gì tác giả viết như chân lý, đọc với thái độ thành kiến phủ nhận toàn bộ những gì tác giả viết, dù đúng hay sai, và đọc với thái độ vô tư, không thành kiến, cái gì đúng thì cho là đúng và ngược lại.

    ¾ Thái độ đọc đầu tiên là thái độ đọc với niềm tin dựa trên uy tín của tác giả, mà không bao giờ đặt vấn đề. Thái độ đọc này thường xuất hiện đối với những người đọc nặng đầu óc tôn giáo. Cách đọc này có thể rất có lợi cho việc ứng dụng, nếu những điều được viết là đúng và mang tính giáo dục cao. Và ngược lại, nó trở nên vô cùng tai hại, nếu nội dung của văn bản mang tính phi xã hội, đạo đức, gây bạo động, phân chia, tạo hận thù . . . Độc giả nên tránh thái độ đọc cực đoan này.

    ¾ Thái độ đọc thứ hai là thái độ đọc đầy thành kiến, biên kiến, tư kiến hay nặng mặc cảm với tác giả, do đó, khó có thể tiếp nhận ý tưởng văn bản một cách chính xác. Trong cuộc sống đời thường, người đọc có thể có những va chạm, mâu thuẫn với tác giả do khác nhau về ý thức hệ tôn giáo, ý thức hệ chính trị, quan niệm, cách sống hay đời sống riêng tư v.v…nhưng không vì thế mà người đọc lại cho phép mình có quyền phủ nhận giá trị của tác phẩm của tác giả mình không thích. Bất lợi cho hạng độc giả này là họ không thể tiếp thu được những điều hay của tác giả chỉ vì không thích đời sống riêng tư của tác giả hay do khác ý thức hệ. Độc giả nên tránh thái độ đọc cực đoan này.

    ¾ Cách đọc thứ ba là cách đọc thích hợp nhất. Ở đây, độc giả không bị thành kiến, tư kiến, đức tin mù quáng chi phối. Độc giả đọc một tác phẩm với một tâm hồn và khói óc rộng mở, vô tư, không thiên vị và có khoa học. Những điều dở hay sai lầm thì ghi nhận để rút kinh nghiệm hay góp ý xây dựng tác giả. Những điều nào hay thì ghi nhận học hỏi, trích dẫn minh họa khi cần thiết. Đọc như vậy mới thật sự có giá trị nghiên cứu.

    c) Đọc cái gì? Sách và tài liệu thì vô số. Nếu không biết chọn lọc trong lúc đọc, bạn sẽ dễ dàng bị lạc vào trong thế giới mông lung, vô định của những kiến thức và ý tưởng. Do đó, bạn chỉ nên đọc những gì cần thiết cho đề tài chứ không phải đọc hết những gì đã có:

    ¾ Các tài liệu gốc về đề tài.

    ¾ Các tài liệu hai thật hay về đề tài.

    ¾ Dù là tài liệu gốc hay tài liệu hai, bạn cũng chỉ nên đọc các phần liên hệ đến các vấn đề trong đề tài.

    ¾ Đọc mục lục và bảng chú dẫn mục từ của các tài liệu gốc và tài liệu hai có thẩm quyền để chọn phần cần đọc và tham khảo.



    2. Ghi Chú Những Gì?

    ¾ Những kiến thức hay thông tin cần thiết nhất, phổ quát nhất và cần có cho lãnh lực nghiên cứu của bạn, để hệ thống kiến thức của bạn.

    ¾ Những kiến thức hay thông tin sáng tạo, khám phá hay đóng góp riêng của các tác giả nổi tiếng, để học hỏi và trích dẫn về sau.

    ¾ Những nhận định, đánh giá thật sự mới mẻ, đặc biệt và có sáng tạo của các tác giả khác, để học hỏi và trích dẫn về sau.

    — Những nhận định, đánh giá, phê bình sai lầm hay mang tính định kiến về bất kỳ góc độ nào của lãnh vực nghiên cứu nào đó, để phê bình hay góp ý khi cần thiết về sau.

    3. Cách Ghi Chú Tài Liệu

    a) Về thẻ ghi chú:

    Tốt nhất người nghiên cứu nên ghi chú tất cả tài liệu bằng các thẻ riêng biệt. Nên làm thẻ bằng loại giấy cứng để có thể bảo quản lâu dài. Cở của thẻ ghi chú tùy thích, miễn sao tiện dụng là được. Có hai khổ thường được sử dụng nhiều nhất là khổ 4x6 và 5x8 inch.


    b) Tiêu chí ghi chú

    ¾ Sử dụng mỗi thẻ cho mỗi ý tưởng, sự kiện hay khái niệm độc lập để dễ dàng tham khảo sau này. Cách này giúp cho nhà nghiên cứu dễ dàng phân loại, sắp xếp và sử dụng.

    ¾ Tên chủ đề được đặt ở phần trên hết của thẻ. Mỗi chủ đề thường bao gồm các từ chìa khóa để giúp nhà nghiên cứu nhận dạng chúng dễ dàng mà không cần phải đọc lại nội dung ghi chú.

    ¾ Ghi chép đầy đủ thông tin để nhận dạng các ghi chú dễ dàng khi sử dụng. Vì trong thẻ thư mục, bạn đã ghi chú đầy đủ các chi tiết số thư mục, tên tác giả, tên tác phẩm, các chi tiết về ấn bản, nội dung chính của tác phẩm, chương/mục/trang cần tham khảo và số thứ tự của thẻ, cho nên bạn chỉ cần ghi số thứ tự của thẻsố trang là đủ để nhận dạng chúng. Nếu trong thẻ thư mục của bạn không có ghi số thứ tự thì bạn phải ghi thêm các chi tiết: họ + năm xuất bản + số trang để nhận dạng thẻ ghi chú.

    ¾ Nếu phần ghi chú vượt quá khổ hiện hành của thẻ ghi chú thì bạn có thể ghi tiếp ở các thẻ tiếp theo bằng các ký hiệu a, b, c.

    — Đối với những câu, đoạn nguyên tác mà bạn sẽ dẫn chứng sau này, bạn nên ghi chú theo phong cách trích dẫn, nghĩa là chép lại nguyên văn, không thêm thắt và đặt phần ghi chép này trong ngoặc kép, để dễ dàng kiểm tra chính tả về sau.

    ¾ Đối với các ghi chú chỉ để tham khảo tư tưởng, bạn chỉ cần tóm tắt đại ý của văn bản nguyên tác bằng ngôn ngữ và văn phong của riêng bạn, và không phải bỏ chúng trong ngoặc kép.


    c) Vị trí các chi tiết của ghi chú

    ¾ ên chủ đề ghi chú nằm ở góc trái của thẻ.

    ¾ Số thứ tự của thẻ nằm ở góc phải. Số thứ tự này cũng chính là số thứ tự của thẻ thư mục làm việc.

    ¾ Phần ghi chép là phần còn lại của thẻ, thường được viết theo cách ‘bằng đầu thả lỏng đuôi’ (align left).


    d) Mẫu thẻ ghi chú (trích dẫn trực tiếp)

    [​IMG]

    e) Mẫu thẻ ghi chú (trích dẫn gián tiếp) [​IMG]

    X. PHÂN TÍCH TÀI LIỆU GHI CHÉP
    Trước khi tiến hành phác thảo một cách chi tiết dàn bài thực thụ của bài khảo luận hay luận án, nhà nghiên cứu nên đọc kỹ lại các tài liệu đã ghi chép trên các thẻ ghi chép của riêng mình. Nhờ sự đọc lại, nhà nghiên cứu có thể phân loại tài liệu, bổ sung, sửa chữa, nhận định và ghi chú một cách chi tiết những gì cần thiết cho công việc chấp bút. Thường trong khi đọc lại và phân tích tài liệu, sẽ có nhiều ý tưởng rất mới lạ, sáng tạo xuất hiện trong tâm trí tác giả. Lúc ấy, bạn phải ghi chép liền, bằng không các ý tưởng ấy rất dễ dàng tan biến và mất đi.



    XI. PHÁC THẢO DÀN BÀI CHI TIẾT
    Để việc chấp bút trở nên dễ dàng và suông sẻ, bạn nên phác thảo lại lần cuối dàn bài nghiên cứu của bạn.

    1. Chức Năng của Dàn Bài Chi Tiết

    a) Giúp bạn có cái nhìn bao quát và liên tục về ý tưởng về tất cả những gì sẽ viết và phải viết.

    b) Nhờ đó, bạn sẽ cân nhắc kỹ lưỡng về tính cân đối giữa các phần và các luận điểm minh họa chúng.

    c) Tránh được lỗi viết lạc đề.

    d) Dù có bị gián đoạn trong khi viết do bận công việc, bạn cũng có thể tiếp nối lại ý tưởng đang viết dở dang một cách dễ dàng.

    2. Các Phần Chính của Dàn Bài

    a) Phần dẫn nhập

    ¾ Xác định vấn đề.

    ¾ Tầm quan trọng của nghiên cứu về đề tài.

    ¾ Định nghĩa các thuật từ.

    ¾ Điểm lược văn học về đề tài.

    ¾ Xác định phạm vi nghiên cứu.

    ¾ Đặt vấn đề trong bối cảnh có ý nghĩa.

    ¾ Giới thiệu các thông tin sẽ có trong phần chính của bài khảo luận hay luận án.

    b) Phần thân bài khảo luận hay luận án

    ¾ Triển khai một cách logic các luận điểm nêu ra trong phần dẫn nhập.

    ¾ Giải pháp tiệm tiến cho các vấn đề nêu ra trong phần dẫn nhập.

    ¾ Phát triển các tiêu đề nêu trong thẻ ghi chú thành các tiêu đề của các phần chính của bài khảo luận hay các chương của luận văn hay luận án.

    ¾ Các phần chính của bài khảo luận hay các chương của luận văn, luận án phải liên đới ý tưởng với nhau để cùng làm nổi bật nội dung chủ đề chính.

    c) Phần kết luận

    ¾ Tóm lược nội dung của phần thân bài.

    ¾ Trình bày các khám phá hay đóng góp của bài khảo luận, luận văn, luận án.

    ¾ Giải pháp hay các phương thức dẫn đến giải pháp của các vấn đề.

    ¾ Các đề nghị cho các nghiên cứu chuyên sâu về đề tài.

    XII. VIẾT BẢN THẢO
    1. Điều Kiện Cần và Đủ

    ¾ Các tài liệu tham khảo.

    ¾ Các từ điển chuyên ngành, bách khoa, thuật ngữ, đối chiếu.

    ¾ Các thẻ ghi chú.

    2. Những Điều Cần Nhớ Nằm Lòng

    ¾ Không dùng những lời lẽ hay từ ngữ dao to búa lớn.

    ¾ Không dùng những lời lẽ cao ngạo, cống cao, khinh thường các nhà nghiên cứu khác.

    ¾ Không dùng những từ ngữ rỗng tuếch.

    ¾ Hạn chế tối đa việc sử dụng các “đại danh từ và sở hữu tính từ ngôi thứ nhất” như “tôi, của tôi.”

    ¾ Thay thế các đại danh từ và sở hữu tính từ ngôi thứ nhất như “tôi, của tôi” bằng “chúng tôi, của chúng tôi” hay “người viết” hay “tác giả” hay “người nghiên cứu” bài này hoặc luận án này.

    ¾ Nên nhất quán về cách sử dụng các thuật ngữ, nhất là các thuật ngữ dịch có nguồn gốc từ tiếng nước ngoài.

    ¾ Đối với ngôn ngữ gốc của Phật học, hoặc là bạn chọn phong cách trích thuật ngữ Pali hoặc Sanskrit; chứ không nên khi thì trích từ Pali và khi thì Sanskrit. Nếu bạn muốn sử dụng cả hai thì bạn nên dùng một ngôn ngữ chính, chẳng hạn như Pali, và ngôn ngữ còn lại được điền trong ngoặc đơn, để độc giả không bị nhầm lẫn khi đọc.

    3. Giai Đoạn Một

    — Đặt nặng phương diện ý tưởng, nội dung và tư tưởng của chủ đề.

    — Không đặt nặng về việc ghi các cước chú, văn phạm và văn phong.

    4. Giai Đoạn Hai

    — Đọc lại bản thảo đã viết một cách kỹ lưỡng.

    — Bổ sung những gì cần thiết như cước chú và những gì cần thêm vào.

    — Bỏ đi những ý tưởng trùng lập, lượm thượm, không cần thiết.

    — Sửa chính tả, chỉnh lý câu cú và văn phong.

    5. Giai Đoạn Ba

    — Viết hay đánh lại bản thảo cho sạch sẽ.

    — Dò và biên tập lại văn bản lần cuối.

    Nhờ bạn bè đọc góp ý.

    Bổ sung hay sửa chữa theo những ý kiến đóng góp, nếu ý kiến hay.
     
  3. admin

    admin Administrator Staff Member

    Tham gia :
    16/04/2018
    Bài viết:
    14.278
    Lượt thích:
    189
    Điểm thành tích:
    125.887
    CẨM NANG VIẾT
    KHẢO LUẬN, LUẬN VĂN VÀ LUẬN ÁN

    Thích Nhật Từ
    CHƯƠNG III
    CẤU TRÚC CỦA LUẬN ÁN
    (THE FORMAT OF THE THESIS)




    I. DẪN NHẬP
    Có một số qui định mang tính quốc tế về cách trình bày hình thức hay cấu trúc của luận án mà người nghiên cứu cần tuân thủ để hình thức của luận án được rõ ràng, thích ứng, logic và đạt tiêu chuẩn. Thông thường cấu trúc của luận án hay sách tiêu chuẩn bao gồm ba phần: phần dẫn nhập, phần văn bản và phần tham khảo. Chiều dài hay số trang của ba phần này và giữa các chương không nhất thiết phải cân đối, miễn sao đáp ứng được mục đích nghiên cứu và phục vụ người đọc.

    A. Phần Dẫn Nhập (The Preliminaries)

    1) Trang bìa (Cover-Page).

    2) Trang để trống (Blank Page) hay trang đệm (Fly-Page) hay trang nửa tựa đề (Half-Title Page).

    3) Trang tựa đề (Title-Page)

    4) Trang tưởng niệm (Dedicated page)

    5) Trang xác nhận của giáo sư hướng dẫn và giáo sư trưởng bộ môn (Certificate).

    6) Trang tuyên bố của nghiên cứu sinh (Declaration).

    7) Mục lục (Table of Contents).

    8) Lời đầu sách (Preface).

    9) Lời cảm ơn (Acknowledgements).

    10) Bảng liệt kê các bảng biểu, hình ảnh minh họa, nếu có (List of Tables, Figures and Illustrations or Plates).

    10. Bảng viết tắt (Abbreviations).

    11. Ghi chú về cách đánh số, ngôn ngữ và bản dịch (A Note on Numerals, Language and Translation)

    B. Phần Văn Bản (The Text or the Thesis)

    1) Chương dẫn nhập (Introduction).

    2) Chương hai.

    3) Chương ba.

    4) Chương v.v...

    5) Chương kết luận hay tóm tắt (Conclusion or Summary).

    C. Phần Tham Khảo (References)

    1) Phụ chú (Appendixes).

    2) Bảng chú giải thuật ngữ hay thuật ngữ đối chiếu (Glossaries).

    3) Thư mục tham khảo (Bibliography).

    4) Bảng chú dẫn mục từ (Indices).

    II. VỀ PHẦN DẪN NHẬP
    1. Trang Bìa

    a) Các chi tiết cần và đủ: tựa đề của luận án, cấp luận án, khoa, tên nghiên cứu sinh, tên giáo sư hướng dẫn, tên bộ môn, tên trường, địa điểm trường, năm trình luận án.

    b) Qui định về trình bày

    — Khổ của luận án là khổ giấy A-4.

    — Tất cả được trình bày ở giữa trang.

    — Tựa đề của luận án, chữ “luận án,” tên nghiên cứu sinh và người hướng dẫn phải viết chữ in hoa và đậm.

    — Các phần còn lại viết chữ thường.

    — Tỉnh lược toàn bộ các dấu chấm câu.

    c) Mẫu trang bìa


    PHÊ BÌNH HỌC THUYẾT NGÔN NGỮ CỦA
    WITTGENSTEIN


    LUẬN ÁN

    Trình tại Bộ môn Triết học thuộc Khoa Văn
    của Trường Đại học Phật Giáo Việt Nam
    để hoàn tất các yêu cầu được cấp Văn bằng
    Tiến sĩ Triết học về
    TRIẾT HỌC



    Nghiên cứu sinh
    THÍCH TRÍ NHÂN

    Người hướng dẫn
    Tiến sĩ THÍCH CHÂN NGUYÊN
    Giáo sư Pali và Phật giáo Thượng Tọa Bộ






    Bộ môn Triết học
    Trường Đại học Phật Giáo Quốc Tế
    TP. Hồ Chí Minh
    1998
    2. Trang Đệm hay Trang Nửa Tựa Đề

    Đối với luận văn và luận án, trang đệm có thể là một trang để trống. Đối với sách xuất bản, trang đệm được thay thế bằng trang nửa tựa đề tức là trang chỉ ghi tựa tác phẩm bằng một phong chữ in nhỏ ở phần đầu trang.

    3. Trang Tựa Đề hay Nhan Đề

    Các chi tiết và cách trình bày trang nhan đề giống như trang bìa của luận văn hay luận án.

    4. Trang Xác Nhận của Giáo Sư Hướng Dẫn và Giáo Sư Trưởng Bộ Môn

    a) Nội dung yêu cầu: Bao gồm 3 ý chính. Thứ nhất là xác nhận rằng luận văn hay luận án của sinh viên hay nghiên cứu sinh là công trình nghiên cứu của chính anh/chị, không sao chép hay dựa vào bất kỳ luận văn, luận án hay sách vở nào từ trước đến giờ. Thứ hai là xác nhận rằng luận văn hay luận án này chưa xuất bản và chưa nộp cho bất kỳ trường nào để được cấp văn bằng. Thứ ba là xác nhận rằng luận văn hay luận án này xứng đáng được cứu xét cho văn bằng của cấp luận văn hay luận án đó.

    b) Mẫu xác nhận: Không có một tiêu chuẩn chung được áp dụng phổ quát về lời văn xác nhận. Ở đây, chúng tôi chỉ đưa ra mẫu gợi ý.

    XÁC NHẬN CỦA GIÁO SƯ HƯỚNG DẪN
    VÀ GIÁO SƯ TRƯỞNG BỘ MÔN

    Chúng tôi xin xác nhận rằng đây là luận án do chính nghiên cứu sinh Trần Tịnh thực hiện dưới sự hướng dẫn của chúng tôi.

    Luận án này là công trình mới, có nhiều sáng tạo, và do đó, đáng được cứu xét để được cấp văn bằng Tiến sĩ.

    Ngày tháng năm xác nhận

    Giáo sư hướng dẫn
    Ký tên
    Chức vụ
    Địa chỉ liên hệ
    Giáo sư trưởng bộ môn
    Ký tên
    Chức vụ
    Địa chỉ liên hệ


    5. Tuyên Bố của Sinh Viên hay Nghiên Cứu Sinh (nếu yêu cầu)
    a) Nội dung yêu cầu: Bao gồm 2 ý chính. Thứ nhất là tuyên bố rằng luận văn hay luận án này là sản phẩm nghiên cứu của chính mình, chứ không chép hay dựa vào bất kỳ sách vở hay luận án nào từ trước đến giờ. Thứ hai là tuyên bố rằng luận văn hay luận án này chưa nộp cho bất trường nào để được cấp phát bất kỳ văn bằng nào.

    b) Mẫu gợi ý:

    LỜI TUYÊN BỐ CỦA NGHIÊN CỨU SINH

    Chúng tôi xin tuyên bố rằng đây là tác phẩm nghiên cứu của riêng chúng tôi, không có sự hợp tác của ai, không sao chép hay dựa vào tác phẩm nào từ trước đến giờ. Luận án này chưa nộp cho bất kỳ trường nào để được cấp phát bất kỳ chứng chỉ hay văn bằng nào.

    Ngày tháng năm nộp luận văn hay luận án
    Chữ ký
    Họ tên của sinh viên hay nghiên cứu sinh


    6. Lời Nói Đầu

    ‘Lời nói đầu’ thường phải toát lên được các ý sau đây: — mục đích nghiên cứu của luận văn hay luận án, — điểm lược bối cảnh của đề tài nghiên cứu, — phạm vi nghiên cứu, — giới thiệu nội dung bao quát của luận văn hay luận án, — cho biết lý do của những điểm được nhấn mạnh trong luận văn hay luận án.

    Nếu tác giả không thấy có gì quan trọng hay cần thiết để viết thì “Lời nói đầu” có thể được tỉnh lược và thay vào đó là “Lời cảm ơn.”

    7. Lời Cảm Ơn

    a) Đối tượng cảm ơn: Lời cảm ơn thường bao gồm một vài hay tất cả các đối tượng sau đây: cha mẹ, gia đình, thầy tổ, người hướng dẫn, thầy cô giáo, người cố vấn và góp ý, ân nhân, bạn bè, cơ quan, đoàn thể, tổ chức, trường viện, thư viện và các nhà xuất bản đã trực tiếp hoặc gián tiếp giúp đỡ nghiên cứu sinh hoàn thành luận văn hay luận án này.

    b) Cảm ơn chung và riêng: Nếu đối tượng cảm ơn quá ít và không gì đặc biệt thì không cần lời cảm ơn riêng biệt. Trong trường hợp này, ta có thể kèm lời cảm ơn trong lời nói đầu của luận văn hay luận án. Những người đóng vai trò quan trọng trong đời hay trong sự nghiệp nghiên cứu của tác giả có thể đưa ra trang cảm ơn riêng biệt bằng những lời lẽ đặc biệt, cụ thể và cảm xúc. Các đối tượng còn lại có thể ghi cảm ơn chung trong một vài trang sau đó. Lời cảm ơn về tác quyền thường nằm một trang riêng với đối tượng cảm ơn đặc biệt.

    c) Nội dung yêu cầu: Lời cảm ơn phải biểu cảm, chân tình, rõ ràng, cụ thể và tránh viết những lời chung chung. Thứ tự ghi phải thật tế nhị và cần cân nhắc kỹ lưỡng để tránh phật lòng người thi ơn, vì thông thường người có công nhiều lại không có chức vụ và tên tuổi, và ngược lại.

    8. Bảng mục lục

    a) Nội dung yêu cầu

    Mục đích của bảng mục lục là nhằm cung cấp cho người đọc ý niệm bao quát và có hệ thống về nội dung nghiên cứu của luận văn hay luận án. Qui chuẩn học đường về mục lục của luận văn và luận án thường bao gồm chương dẫn nhập, các chương nội dung, chương kết luận hay tóm tắt, thư mục tham khảo, phần phụ chú, các bảng từ vựng (glossaries) và các bảng chú dẫn mục từ (indices), nếu có. Mỗi chương thường có nhiều phần. Mỗi phần thường có nhiều ý nhỏ. Mỗi ý nhỏ đó lại có nhiều ý khác. Mục lục càng chi tiết càng tốt.

    b) Cách đánh số trang

    — Đánh số la-mã cho các trang lời nói đầu, lời cảm ơn, mục lục, bảng liệt kê các biểu bảng, hình ảnh minh họa.

    — Đánh số á-rập cho các phần còn lại của luận văn hay luận án. Số thứ tự của số á-rập được tính từ trang đầu tiên của chương thứ nhất cho đến trang cuối cùng của luận văn hay luận án.

    — Không điền số trang cho các trang đệm và trang tựa đề, trang xác nhận, trang tuyên bố nhưng số trang la-mã phải được tính từ trang tựa đề của luận văn hay luận án.

    — Không điền số trang cho các trang đầu của các chương, thư mục tham khảo, phụ chú, bảng từ vựng và bảng chú dẫn mục từ nhưng số trang vẫn được tính liên tục không gián đoạn giữa chúng.

    c) Cách trình bày

    — Từ “MỤC LỤC” phải đặt ở chính giữa cách đầu trang khoảng 2.5 cm bằng chữ in hoa và đậm.

    — Đánh chữ in hoa cho các tiêu đề Lời cảm ơn, Xác nhận của giáo sư hướng dẫn, Tuyên bố của sinh viên (nếu yêu cầu), Lời đầu sách, các chương, thư mục tham khảo, phụ chú, bảng từ vựng và bảng mục từ tham khảo.

    — Đánh chữ hoa thường cho các phần đoạn, tiểu mục của các chương, ngoại trừ các giới từ, liên từ và mạo từ. Nếu các từ này đứng đầu câu hay tiêu đề thì chúng phải được viết hoa.

    — Số trang được ghi ở bên phải của tờ giấy theo chiều thẳng dọc và phải tương ứng với phần, chương, mục, chi tiết của chúng.

    9. Các Minh Họa / Bảng Liệt Kê các Bảng và Hình Ảnh Minh Họa

    a) Mô tả

    — Các minh họa: Từ “minh họa” (illustrations) có thể được hiểu chung cho các ví dụ và tranh ảnh các loại. Có hai loại trình bày bằng hình thức biểu bản và tranh ảnh (pictorial representation) là biểu bản (tables) và hình ảnh (figures). Hình ảnh bao gồm các ảnh chụp (Photographs hay plates), tranh họa (paintings), bản đồ (maps), bảng (tables), biểu (charts), đồ thị (graphs) và biểu đồ (diagrams). Nghiên cứu sinh có thể dùng từ “các minh họa” để thay thế chung cho tất cả các bản liệt kê và hình ảnh minh họa, hoặc tách riêng ra thành các bảng riêng biệt như dưới dây.

    Bảng liệt kê các bản: Là bảng liệt kê các bảng (tables),biểu (charts), bản đồ, họa đồ (maps), đồ thị (graphs), biểu đồ (diagrams) và các thống kê (Statistics) có liên quan đến hay nhằm minh họa một cách ấn tượng các điểm trong luận văn hay luận án. Các biểu đồ và thống kê có thể đặt xen vào ngay trang cần minh họa. Bản đồ và họa đồ thường đặt ở cuối sách, trước hình ảnh minh họa (Plates).

    Bảng hình ảnh minh họa: Là bảng liệt kê các hình ảnh, tranh họa và các hình thức minh họa bằng chữ hay đoạn trích dẫn có liên quan đến các vấn đề của luận văn hay luận án. Có hai loại hình minh họa: hình minh họa ngay trang cần minh họa (Figures) và hình minh họa ở cuối sách (Plates).

    b) Cách trình bày

    Về tiêu đề: Các tiêu đề của bảng liệt kê và hình ảnh minh họa được viết theo phong cách câu, nghĩa là chỉ viết hoa chữ đầu câu và các nhân danh và địa danh.

    Về nội dung: Gồm ba phần: số các chương mục có phần minh họa + tiêu đề của minh họa + số trang có phần minh họa.

    Về trật tự: Các minh họa được bố cục theo thứ tự xuất hiện của chúng trong văn bản hay luận văn, luận án.

    c) Ví dụ

    [​IMG]

    [​IMG]

    10. Bảng Viết Tắt[1]

    a) Phạm vi ứng dụng: Trong các luận án, bảng viết tắt thường chỉ ứng dụng cho các tác phẩm thuộc tài liệu gốc (Primary sources), bách khoa, tạp chí nghiên cứu và những tác phẩm được trích dẫn nhiều lần trong tác phẩm. Trong các bách khoa và từ điển nói chung, bảng viết tắt còn ứng dụng cho các thuật ngữ, ngôn ngữ hay từ loại, tên các bộ môn cũng như nhân danh và địa danh.

    b) Cách viết tắt: Mặc dù không có một chuẩn tắc cho cách viết tắt tựa đề tác phẩm, thông thường các nhà nghiên cứu thường viết hoa và nghiêng các chữ cái đầu của các thực từ (tức không tính liên từ, giới từ và mạo từ) của tựa đề tác phẩm. Trường hợp, các tác phẩm có các chữ cái của thực từ giống nhau, ta có thể viết thêm bằng chữ thường một hay vài mẫu tự kế của thực từ đầu tiên của tựa đề để phân biệt chúng. Nói chung, ký tự viết tắt phải ngắn gọn và gợi hình, để người đọc dễ nhớ và nhận dạng.

    c) Ví dụ

    AN.: Aơguttara Nikya. A.: Aơguttara Nikya.

    DN.: Dgha Nikya D.: Dgha Nikya

    KU: Kena Upaniãad. Kau. U: Kauãtak Upaniãad.

    III. VỀ PHẦN VĂN BẢN (The Text or the Thesis)

    1. Chương Dẫn Nhập

    a) Về qui định: Đối với luận văn và luận án, chương dẫn nhập là chương cần thiết và bắt buộc. Mục đích của chương dẫn nhập là nhằm trình bày vấn đề nghiên cứu trong một bối cảnh nhất định, để gây sự hứng thú cho người đọc về những điểm chính của tác phẩm.

    b) Về nội dung: Chương này thường bao gồm các phần sau: mục đích nghiên cứu và tầm quan trọng của đề tài, điểm lược lịch sử đề tài, phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu, các giả thuyết, học thuyết và khám phá mới của nghiên cứu sinh.

    c) Về chức năng: Chương dẫn nhập đóng vai trò quan trọng trong việc phác thảo khung sườn của luận văn hay luận án, và do đó cần được viết một cách thận trọng, súc tích và rõ ràng, để gây ấn tượng tốt cho các chương nội dung.

    2. Các Chương Nội Dung

    a) Về yêu cầu: Đây là thân thể hay phần cốt lõi của luận văn hay luận án. Mỗi chương đóng một vai trò khác nhau, và do đó, dữ liệu, phương pháp, cách trình bày và chiều dài của chúng không nhất thiết giống nhau hay cân xứng. Mỗi chương cần được chia thành nhiều phần. Mỗi phần lại được chia thành nhiều mục. Mỗi mục nên có nhiều chi tiết. Mỗi chi tiết nên có nhiều ý tưởng. Tất cả phải được liên kết với nhau và bổ sung cho nhau trong việc phác thảo và hình thành “ngôi nhà” nội dung của luận văn hay luận án. Ý tưởng của các chương phải liên hệ mật thiết với nhau để cùng làm nổi bật chủ đề của luận án. Tiêu đề của các chương và phần, mục của luận án phải phản ánh được nội dung của các chương, phần, mục mà nó mô tả. “Rao dưa bán dừa” là điều vô cùng cấm kỵ trong việc đặt tiêu đề.

    b) Về cách trình bày

    Về phép viết hoa: Viết bằng chữ in và đậm các chương và phần mục chính. Viết theo dạng thức câu cho các phần mục còn lại bằng chữ thường và đậm.

    Về vị trí: Tiêu đề của các chương phải được đặt giữa trang và cách đầu dòng khoảng 3 cm. Tiêu đề của các phần mục còn lại có thể đặt ở đầu dòng nơi chúng xuất hiện, hoặc vào đầu dòng sau mỗi chi tiết mới của phần mục.

    Về số của chương mục: Đánh toàn bộ số á-rập cho cách trình bày 1 hay phối hợp số la-mã, á-rập và mẫu tự cho cách trình bày 2, như mẫu dưới đây.

    Mẫu trình bày

    [​IMG]



    3. Chương Kết Luận hay Tóm Tắt

    a) Nội dung yêu cầu: Cũng giống như chương dẫn nhập, chương kết luận hay tóm tắt là chương cần thiết cho luận văn hay luận án. Mục đích chính của chương này là nhằm tóm tắt các nội dung nghiên cứu đã được nghiên cứu sinh khám phá hoặc hình thành giả thuyết mới. Do đó, phần kết luận cần phải nhắc độc giả về những gì đã được đặt ra trong phần dẫn nhập của luận án, và trên nền tảng của toàn bộ những luận điểm nêu ra trong các chương, phần tóm tắt hay kết luận này phải làm nổi bật hay sáng tỏ chúng. Hay nói khác hơn, nó làm chức năng tóm tắt và tái xác định các khám phá hay đóng góp của mỗi chương trong một trình tự logic và biện chứng của các luận điểm trong luận án.

    Để làm chức năng này, phần kết luận phải được diễn tả theo một phong cách riêng. Nghĩa là, tránh trích đoạn lại những gì nêu ra trong chương dẫn nhập và trong các chương nội dung. Nó phải được viết bằng một phong cách diễn đạt mới, súc tích, cô đọng, ấn tượng. Ngoài ra, nếu có thể, chương kết luận cũng nêu lên một số nhận xét, nhận định, đánh giá vấn đề hoặc đưa ra một số vấn đề phát sinh từ các luận điểm của luận án nhưng lại vượt quá phạm vi giới hạn của đề tài, để cho các nhà nghiên cứu về sau tiếp tục nghiên cứu và khám phá.

    b) Tóm tắt: Nói khác hơn, chương kết luận phải bao gồm các điểm sau đây:

    — Ý nghĩa nghiên cứu về đề tài.

    — Tóm tắt nội dung các chương và các đóng góp của riêng tác giả.

    — Các phương diện ứng dụng của luận án.

    — Các đánh giá, nhận định, phê bình của tác giả.

    — Các đề nghị cho các nghiên cứu về sau.

    c) Về cách trình bày: giống như các chương nội dung.

    IV. VỀ PHẦN THAM KHẢO
    1. Phần Phụ Chú (Appendixes)

    a) Định nghĩa và nội dung yêu cầu: Phụ chú là những tài liệu tương đối dài hay những bằng chứng gián tiếp liên heä hay nhằm bổ sung một hay vài vấn đề quan trọng nào đó trong luận án hay sách nghiên cứu. Vì là gián tiếp nên không thể đưa chúng vào trong văn bản chính, để tránh làm loãng vấn đề và phân tâm người đọc. Nhưng vì có liên hệ hay bổ sung một hay vài vấn đề quan trọng nào đó trong luận án nên các phụ chú không thể thiếu, bằng cách đưa ra sau văn bản chính để tham khảo khi cần thiết. Chính vì thế, nghiên cứu sinh phải cân nhắc kỹ lưỡng xem phần nào nên đưa vào phụ chú và phần nào nên giữ lại trong văn bản, để mục đích và tác dụng trình bày đạt được cao nhất.

    b) Tầm quan trọng: Các phụ chú đóng vai trò sau đây:

    — hỗ trợ tham khảo đắc lực cho người viết và người đọc.

    — đóng vai trò bảo vệ, hỗ trợ và bổ sung những vấn đề được trình bày trong luận án.

    — giúp cho độc giả biết rõ và chuyên sâu các vấn đề liên hệ gián tiếp đến luận án.

    — làm cho luận án có sức thuyết phục cao hơn và trở nên tiêu chuẩn hơn.

    c) Các qui định về phép trình bày

    Về co chữ: Vì không phải là phần quan trọng, các phần phụ chú được in bằng mọt co chữ nhỏ hơn co chữ trong văn bản chính, để không chiếm nhiều không gian không cần thiết.

    Về phép viết: Từ “PHỤ CHÚ” phải được viết in hoa và đặt ngay chính giữa, cách đầu trang giấy khoảng 3 cm. Bạn có thể gạch dưới nó hoặc không gạch dưới nó nhưng sau nó không có dấu chấm hay phết nào cả.

    Về số lượng: Nếu có từ hai phụ chú trở lên, ta có thể phân biệt chúng bằng cách thêm các chữ cái in hoa như A, B, C hay I, II, III .. . sau từ “PHỤ CHÚ,” như PHỤ CHÚ A, PHỤ CHÚ B, PHỤ CHÚ C, tức PHỤ CHÚ I, PHỤ CHÚ II và PHỤ CHÚ III v.v. . Trong trường hợp này, mỗi phụ chú phải được trình bày ở một trang độc lập.

    Về vị trí: Phần phụ chú thường đứng trước bảng giải thích các thuật ngữ và thư mục tham khảo (mặc dù có vài nhà nghiên cứu thích đặt sau phần thư mục tham khảo). Thứ tự của các phần phụ chú phải thích ứng với thứ tự các phần mà chúng bổ sung hay minh họa.

    2. Bảng Giải Thích Thuật Ngữ (Glossaries)

    a) Định nghĩa: Bảng giải thích thuật ngữ là danh sách các thuật ngữ, từ ngữ quan trọng được giải thích kỹ càng về phương diện ý nghĩa, hoặc là danh sách liệt kê các thuật ngữ đối chiếu từ hai thứ ngôn ngữ trở lên. Bảng giải thích thuật ngữ còn có thể bao gồm cả phần giải thích nhân danh, địa danh có nguồn gốc nước ngoài.

    b) Tầm quan trọng: Bảng giải thích thuật ngữ đóng vai trò quan trọng trong luận án và sách nghiên cứu công phu. Nhờ nó mà người đọc hiểu được những thuật ngữ mới lạ và khó hiểu cũng như các thuật ngữ có nguồn nước ngoài. Bảng giải thích thuật ngữ cho phép chúng ta đánh giá gián tiếp về mức độ công phu, tiêu chuẩn và giá trị nghiên cứu của luận án.

    c) Phân loại: Có hai loại chínhĐbảng giải thích thuật ngữ chung (General Glossary) và bảng giải thích thuật ngữ phân loại (Classified glossaries).

    Bảng giải thích thuật ngữ chung: là bảng giải thích chung các thuật ngữ, nhân danh, địa danh tiếng nước ngoài với các từ ngữ khó và thuật ngữ không quen thuộc đối với độc giả.

    Bảng giải thích thuật ngữ phân loại: là bảng giải thích thuật ngữ và nhân địa danh cho từng ngôn ngữ nước ngoài được trích dẫn trong tác phẩm. Chẳng hạn như, bảng giải thích thuật ngữ Pali (Pali glossary), bảng giải thích thuật ngữ Sanskrit (Sanskrit glossary), bảng giải thích thuật ngữ Tây Tạng (Tibetan glossary), bảng giải thích nhân địa danh v.v.. .

    d) Qui định về phép viết

    — Viết hoa và đậm các mục từ thuộc nhân danh và địa danh.

    — Viết bằng chữ thường và đậm tất cả các mục từ còn lại.

    — Viết nghiêng tất cả các thuật ngữ tiếng nước ngoài.

    e) Vị trí: Bảng giải thích thuật ngữ thường đứng sau phần phụ lục” và trước phần sách tham khảo.” Các thuật ngữ, nhân danh và địa danh này phải được sắp xếp theo thứ tự của bảng mẫu tự của ngôn ngữ gốc. Nghĩa là, nếu các thuật ngữ cần giải thích viết bằng tiếng Anh thì chúng phải được xếp theo thứ tự mẫu tự tiếng Anh. Tương tự, cho tiếng Pali, Sanskrit, Tây Tạng.

    3. Thư Mục Tham Khảo: xem chương “Thư mục tham khảo.”

    4. Bảng Chú Dẫn Mục Từ (Indices)

    a) Định nghĩa: Bảng chú dẫn mục từ là danh sách các thuật ngữ, nhân danh, địa danh và tựa đề tác phẩm có số trang liên hệ được trình bày một cách chi tiết theo thứ tự bảng mẫu tự ở phần cuối cùng của luận án hay sách. Nó có thể được xem như quyển từ điển nhỏ về các thuật ngữ, nhân danh, địa danh và tên tác phẩm được sử dụng trong tác phẩm với số trang liên hệ.

    b) Chức năng: Bảng chú dẫn mục từ đóng chức năng tham khảo chéo hay hỗ tương (cross-reference) hoặc cung cấp thông tin cho tham khảo dọc, không chỉ cho các chủ đề hay nội dung của luận án đó mà còn cho các tác phẩm khác. Mức độ chi tiết và công phu của bảng chú dẫn chứng tỏ tác giả là người nghiên cứu kỹ lưỡng và tác phẩm thuộc tiêu chuẩn và có giá trị. Ngoài ra, bảng chú dẫn mục từ còn giúp độc giả biết nhanh chóng và bao quát hầu hết các vấn đề liên hệ trong luận án và các tác phẩm khác.

    c) Phân loại chú dẫn: Có hai loại chínhĐbảng chú dẫn mục từ chung (General index) và bảng chú dẫn mục từ phân loại (Classified indices).

    Bảng chú dẫn mục từ chung: là bảng chú dẫn chung cho các thuật ngữ, nhân danh, địa danh và tựa đề tác phẩm trong một danh sách chú dẫn, theo thứ tự bảng chữ cái.

    Bảng chú dẫn mục từ phân loại: là bảng chú dẫn riêng biệt theo thứ tự bảng chữ cái cho các tựa đề tác phẩm, tên tác giả, dịch giả, các thuật ngữ của từng ngôn ngữ nước ngoài được sử dụng trong tác phẩm. Sau đây là một số loại chú dẫn chính thường được sử dụng trong luận án và các tác phẩm tiêu chuẩn.

    — Chú dẫn tác phẩm (Title indices): Nếu luận án trích dẫn và liên hệ đến nhiều tác phẩm bằng nhiều thứ tiếng khác nhau thì chú dẫn tác phẩm có thể phân ra thành các loại như chú dẫn tác phẩm Pali, chú dẫn tác phẩm Sanskrit, chú dẫn tác phẩm Tây Tạng v.v.. .

    — Chú dẫn nhân danh (person name indices): Tương tự, nếu luận án trích dẫn và liên hệ đến nhiều nhân danh hay tác giả và dịch giả bằng nhiều thứ tiếng khác nhau, chú dẫn nhân danh có thể phân ra thành hai loại như chú dẫn nhân danh và chú dẫn tác giả và dịch giả (author-translator index).

    — Chú dẫn địa danh (Place name index): Bao gồm danh sách chú dẫn các tên địa dư, sự vật, chùa tháp, bia ký, kiến trúc, pháp khí và vật dụng trong đạo Phật và các tôn giáo khác v.v. ..

    — Chú dẫn thuật ngữ (Terminology index): Bao gồm chú dẫn các thuật ngữ của ngôn ngữ viết luận án và các thuật ngữ tiếng nước ngoài.

    — Chú dẫn danh mục đối chiếu (Comparative catalogue index): Là bảng chú dẫn đối chiếu các danh mục tác phẩm của từ hai ngôn ngữ trở lên, về phương diện thứ tự và tên văn bản.

    d) Chi tiết của một mục từ chú dẫn: bao gồm [tên mục từ (heading hay entry)+ số trang]+ [các phần trực thuộc của mục từ (subheadings hay subentries) + số trang] + [(nếu có thể) các phân mục nhỏ của các phần trực thuộc của mục từ + số trang] + [tham khảo chéo, thường là từ “xem” hay “xem thêm” hay “xin xem thêm.]”

    e) Các qui định về trình bày

    Về mục tư: Các mục từ của bảng chú dẫn phải là các danh từ hay đại danh từ và không thể là động từ, tính từ hay trạng từ v.v…

    — Nếu là nhân danh Âu Mỹ thì mục từ chính của chú dẫn là “họ” trong khi đối với nhân danh Việt Nam là “tên.”

    Ví dụ: tiêu đề mục từ của chú dẫn Bertrand Russell là Russell, (Bertrand) chứ không phải là Bertrand. Tương tự, tiêu đề mục từ của chú dẫn Thích Trí Quang là Quang, (Thích Trí) thay vì là “Thích” như các tác giả Âu Mỹ thường nhầm lẫn, do không rành về trật tự họ tên Việt Nam.

    — Nếu địa danh bắt đầu bằng từ “sông, núi, hồ, chùa, tháp, bia” thì mục từ chính của chú dẫn loại này là danh từ riêng đi sau chúng.

    Ví dụ: tiêu đề mục từ của chú dẫn “sông Sài Gòn” là Sài Gòn, (sông) chứ không phải là sông. Tương tự, tiêu đề mục từ của chú dẫn chùa Một Cột là Một Cột, (chùa) chứ không phải là chùa.

    Về phép ngắt dòng: Có hai cách, đó là cách ngắt dòng sau số trang của tiêu đề mục từ chính và sau số trang của các phần trực thuộc của mục từ chính đó và cách viết liên tục giữa tiêu đề mục từ và các phần trực thuộc của mục từ đó.

    Đối với cách một, bạn phải trình bày tụt vào đầu dòng sau các phần trực thuộc mục từ chính; nếu các phần trực thuộc đó lại có các phần trực thuộc nữa thì phần trực thuộc kế đến này phải vào đầu dòng nhiều hơn, để phân biệt chúng. Đối với cách hai, mục từ chính phải được trình bày ló đầu ra trong khi các phần trực thuộc mục từ này được viết liên tục; nếu chúng xuống hàng thì phần xuống hàng này phải tụt vào một khoảng cách đều nhau, và phải nhỏ hơn khoảng cách vào đầu hàng của mục từ chính của nó.

    Cách thứ hai không tốn giấy nhưng không rõ ràng. Cách thứ nhất rõ ràng và dễ gây ấn tượng cho người đọc nhưng chiếm nhiều không gian trình bày. Tùy theo sở thích và mục đích trình bày, bạn có thể chọn một trong hai cách sau đây.

    Ví dụ về cách trình bày ngắt dòng

    Phật
    định nghĩa về, 123, 200
    phân loại
    theo Đại thừa, 25-6
    theo Thượng tọa bộ, 27-9
    thời thái tử, 15-46, 123
    chuyển pháp luân, 55-7, 156
    cách tu chứng, 42, 55, 67
    Ví dụ về cách trình bày liên tục

    Phật, định nghĩa về, 123, 200; phân loại, theo Thượng tọa bộ 25-6, theo Đại thừa, 27-9; thời thái tử, 15-46, 123; chuyển pháp luân, 55-7, 156; cách tu chứng, 42, 55, 67

    Về cách chọn tiêu đề mục tưø: Tiêu đề của mục từ chú dẫn phải là từ bao quát hay bao gồm các phần liên hệ đến nó.

    Về phép viết:

    — Không sử dụng dấu chấm ở cuối mỗi mục từ của bảng chú dẫn (đối với cách liên tục) và không sử dụng phép chấm phết sau các số trang của mục từ chính và các phần thuộc mục từ chính đó (đối với cách ngắt dòng).

    Viết bằng chữ hoa các nhân danh, địa danh và tên tác phẩm.

    Viết bằng chữ thường cho các mục từ còn lại.

    [1] Chi tiết của phần này được trình bày ở chương “Bảng viết tắt.”
     
  4. admin

    admin Administrator Staff Member

    Tham gia :
    16/04/2018
    Bài viết:
    14.278
    Lượt thích:
    189
    Điểm thành tích:
    125.887
    ...... ... .. . .. . .
    CẨM NANG VIẾT
    KHẢO LUẬN, LUẬN VĂN VÀ LUẬN ÁN

    Thích Nhật Từ
    CHƯƠNG IV
    ĐỀ CƯƠNG LUẬN ÁN VÀ BẢN TÓM TẮT LUẬN ÁN
    (SYNOPSIS AND ABSTRACT)


    I. ĐỀ CƯƠNG LUẬN ÁN (SYNOPSIS or RESEARCH PROPOSAL)
    A. Dẫn Nhập

    Đề cương luận án là bản phác thảo của một công trình nghiên cứu về một đề tài nào đó. Đối với các trường theo hệ thống giáo dục Mỹ, đề cương luận án thường được tiến hành sau khi sinh viên đã đậu các học phần bắt buộc ở cấp Cao học (đối với luận án cao học) hay đậu các khóa học ở năm thứ hai của tiền tiến sĩ[1] (đối với luận án tiến sĩ). Đối với các trường theo hệ thống giáo dục Anh, đề cương luận án được tiến hành sau khi sinh viên hoàn tất khóa học Cao học hay Phó tiến sĩ.[2]

    Đề cương luận án thường được viết với sự tham vấn hoặc dưới sự chỉ dẫn của giáo sư hướng dẫn (research guide hay supervisor) và phải trải qua hai giai đoạn xét duyệtĐxét duyệt của hội đồng nghiên cứu của bộ môn (Departmental Research Committee) và xét duyệt của hội đồng nghiên cứu của khoa (Board of Research Studies), trước khi nghiên cứu sinh chính thức tiến hành nghiên cứu.

    B. Chọn Đề Tài[3]

    1) Dẫn nhập

    Mục đích của nghiên cứu là đóng góp kiến thức cho lãnh vực văn học đó. Chủ đề lựa chọn phải thích ứng với mục đích đó. Trình bày lại những kiến thức đã biết hẳn không phải là công việc của nhà nghiên cứu. Đề tài nghiên cứu phải hướng đến việc cung cấp những thông tin mới, hoặc ít ra phát hiện thêm những thông tin chưa được biết tới hay hiệu đính lại những kiến thức cũ. Do đó, chọn đề tài nghiễm nhiên trở thành công việc quan trọng thuộc vào bậc nhất của luận án.

    2) Tiêu Chí Chọn Đề Tài

    Để đề tài chọn lọc thật sự là đề tài có nhiều đóng góp và có giá trị, bạn nên cân nhắc một số điểm quan trọng sau đây:

    a) Chủ đề nghiên cứu có mới mẻ không?

    b) Có giáo sư hướng dẫn thích hợp hay không?

    c) Bạn có thật sự thích chủ đề đó không?

    d) Bạn có đủ khả năng khảo cứu chủ đề đó không?

    e) Bạn có thểå hoàn tất đề tài trong thời gian ấn định không?.

    f) Các công cụ cần thiết có đủ hay không?

    g) Các phương tiện thư viện có đầy đủ không?

    h) Đề tài nghiên cứu có thật sự có ý nghĩa không?

    i) Đề tài có thể đóng góp gì cho học giới?

    Nếu phần lớn các câu trả lời đều là ‘được’ hay ‘có’ thì bạn nên tiến hành, bằng không, bạn nên tìm đề tài khác thích hợp hơn.

    C. Các Hợp Phần của Đề Cương Luận Án

    1) Ý Nghĩa Nghiên Cứu hay Tầm Quan Trọng của Đề Tài

    a) Nội dung yêu cầu

    Trong phần này, nghiên cứu sinh phải nêu bật được một số ý trọng tâm sau đây:

    — Xác định vấn đề trong bối cảnh của văn học đề tài và của xã hội hiện tại.

    — Động cơ và mục đích chọn đề tài để tiến hành nghiên cứu.

    — Tầm quan trọng của đề tài trong văn học của nó.

    — Tầm quan trọng của đề tài trong xã hội hiện tại về phương diện học thuyết hay ứng dụng.

    — Giá trị nghiên cứu của đề tài.

    b) Phong cách diễn đạt

    Ngôn ngữ của phần trình bày về tầm quan trọng của đề tài nên cô đọng, ấn tượng và sáng tạo. Vì chỉ là một bộ phận của bản đề cương luận án, nghiên cứu sinh không nên nhập đề bằng cách lung khởi, để tránh cách diễn đạt dài dòng không cần thiết. Cách nhập đề trực khởi trong trường này thường gây những ấn tượng đẹp ở giáo sư hướng dẫn và hội đồng xét duyệt về chủ đề và trọng tâm của chủ đề nghiên cứu.

    Vấn đề trọng tâm cần phải được định nghĩa hay nêu bật một cách rõ ràng, chính xác và dứt khoát. Các phần của tầm quan trọng về đề tài nêu trên cần được trình bày theo một trật tự logic, có kết cấu liên hệ mật thiết và biện chứng, để cùng làm nổi bật được giá trị đóng góp của vấn đề nghiên cứu trong bối cảnh văn học của nó cũng như trong xã hội hiện tại.

    c) Giá trị của đề tài

    Mặc dù không thể có một đề tài hoàn toàn mới mẻ và sáng tạo theo nghĩa chưa hề có một nghiên cứu nào trước đây đã tiến hành, đề tài của bạn nên tránh trùng lập với các nghiên cứu trước và phải có những điểm mới hay giá trị của riêng nó trong giới học thuật. Ít nhất đề tài của bạn phải có những đóng góp nhứt định về phương diện cung cấp kiến thức hay thông tin mới về đề tài hay những cách thức giải thích mới, giả thuyết mới, giải pháp mới cho những vấn đề cũ.

    2) Điểm qua Lịch Sử hay Văn Học về Đề Tài

    a) Lịch sử đề tài là gì?

    Lịch sử đề tài hay văn học về đề tài (reviewing literature hay review of literature hay literary survey of the topic concerned) là toàn bộ mảng văn học về một chủ đề nghiên cứu nào đó, bao gồm các nghiên cứu liên hệ trực tiếp và gián tiếp đến chủ đề đó. Lịch sử đề tài cho người đọc biết hiện có tất cả bao nhiêu tác phẩm đã viết về đề tài đang thảo luận cũng như các phương pháp nghiên cứu của các tác phẩm đó, đồng thời cho chúng ta biết được ưu điểm và khuyết điểm của các nghiên cứu trước đó. Lịch sử văn học về đề tài nhằm tóm tắt tất cả các thành quả nghiên cứu trong quá khứ và phải được trình bày một cách có logic trong mối liên hệ trực tiếp đến mục đích nghiên cứu của đề tài. Sau khi nêu bật các thành tựu cũng như thất bại của các nghiên cứu trong quá khứ, nhà nghiên cứu phải trình bày một cách cô đọng phương pháp tiếp cận mới cũng như các vấn đề khám phá mới của mình.

    Điểm lược lịch sử đề tài là công việc vô cùng quan trọng đối với nghiên cứu sinh và không chỉ được tiến hành hay dừng lại ở khâu viết đề cương luận án mà còn được tiếp tục xuyên suốt thời gian viết luận án. Mỗi lần phát hiện ra tài liệu mới liên hệ đến đề tài, nghiên cứu sinh phải bổ sung vào mảng văn học đề tài của mình cũng như phần thư mục tham khảo.

    b) Chức năng của lịch sử đề tài

    — Điểm qua lịch sử hay văn học về một đề tài giúp cho người viết biết được các khuynh hướng nghiên cứu trước đây và đâu là ưu khuyết điểm của chúng, để thừa kế, phát huy hoặc rút kinh nghiệm.

    — Lịch sử đề tài còn giúp cho nghiên cứu sinh xác định dứt khoát về phạm vi nghiên cứu cũng như phương pháp nghiên cứu cho đề tài của riêng mình.

    — Lịch sử đề tài còn giúp cho nghiên cứu sinh tránh được những nghiên cứu trùng lập không cần thiết và đi sâu vào những góc độ khác với những đóng góp mới hay khám phá mới cho lãnh vực nghiên cứu đó.

    c) Bố cục của phần lịch sử đề tài: Lịch sử hay văn học về đề tài có thể được trình bày theo bốn cáchĐtheo biên niên kỷ tác phẩm, theo tầm quan trọng của tác phẩm, theo phương pháp hay phân loại của tác phẩm và theo trường phái tư tưởng.

    Theo biên niên kỷ của tác phẩm: Văn học của đề tài được điểm qua theo năm xuất bản đầu tiên của chúng. Quyển nào xuất bản trước thì điểm trước và sau thì điểm sau. Cách điểm lược văn học này không hấp dẫn lắm và tỏ ra đơn điệu, máy móc, nếu nghiên cứu sinh không có khả năng viết lách tốt và điêu luyện.

    Theo tầm quan trọng của tác phẩm: Văn học của đề tài được điểm theo tầm quan trọng của tác phẩm. Nghĩa là tác phẩm nào quan trọng nhất thì được giới thiệu trước hay sau cùng để làm nổi bật hướng nghiên cứu trước đây, để từ đó trình bày hướng nghiên cứu của riêng tác giả.

    Theo phương pháp hay phân loại của tác phẩm: Văn học của đề tài được điểm theo phương pháp nghiên cứu hay phân loại của tác phẩm. Nghĩa là các tác phẩm có cùng phương pháp nghiên cứu thì được điểm một lượt rồi đến các nhóm sách có phương pháp tiếp cận khác. Trong các nhóm phướng pháp, thứ tự của các sách được giới thiệu có thể theo biên niên hay tầm quan trọng của chúng.

    Theo trường phái tư tưởng của tác phẩm: Văn học của đề tài được điểm theo hệ tư tưởng của một trường phái hay học thuyết (school of thoughts), chẳng hạn như tâm lý học của trường phái Freud, của Jung hay của Skinner.

    3) Kế hoạch nghiên cứu [4]

    a) Dẫn nhập

    Chọn kế hoạch nghiên cứu, trên cơ bản, liên hệ đến việc chọn lựa phương pháp nghiên cứu thích hợp nhất hay những kỹ thuật giải quyết các vấn đề của nghiên cứu. Đây là bước vô cùng quan trọng của luận án, bởi vì, sự chọn lựa sai lầm có thể dẫn đến kết quả một luận án có nhiều lỗ hỏng và bị phê bình như là thiếu logic và không có khoa học.

    Phác thảo kế hoạch nghiên cứu thật sự khó vì lãnh vực nghiên cứu vô bờ bến và chủ đề nghiên cứu vô cùng tận. Trên căn bản, có hai phạm trù nghiên cứu chính, đó là, nghiên cứu thực nghiệm hay thể nghiệm (empirical or experimental studies) và nghiên cứu phân tích hay văn học (analytical or literary studies). Nghiên cứu thực nghiệm chủ yếu ứng dụng trong các lãnh vực nghiên cứu khoa học (Science-type). Nghiên cứu phân tích hay văn học chủ yếu ứng dụng trong các ngành học thuộc khoa Văn hay Nghệ Thuật (Arts-type).

    Dù là nghiên cứu thuộc thực nghiệm hay phân tích, các yếu tố sau đây là cần thiết trong việc phác thảo kế hoạch nghiên cứu:

    b) Trình bày giả thuyết (Statement of hypotheses)

    Trong nghiên cứu thực nghiệm, vấn đề được tái trình bày bằng các giả thuyết cụ thể có kiểm nghiệm. Các giả thuyết này được trình bày một cách rõ ràng trong mối liên hệ với các nghiên cứu trước đây về đề tài. Trong nghiên cứu phân tích, ít khi nghiên cứu sinh sử dụng từ “giả thuyết.” Thay vào đó, nghiên cứu sinh sử dụng hàng loạt các luận điểm để bênh vực hay đánh đổ các học thuyết trước.

    c) Trình bày các giả định (Statement of Assumptions)

    Trình bày các giả định là phần cần thiết đối với các loại nghiên cứu. Các giả định phải được trình bày rõ ràng, cụ thể. Tránh các thái độ chủ quan và kết luận vội vã trong các giả định.

    d) Giới hạn phạm vi nghiên cứu (Limitations of the Study)[5]

    Đề tài nào cũng cần phải có giới hạn nhất định của nó. Không giới hạn phạm vi nghiên cứu thì chủ đề sẽ mông lung và không thể nêu bật được đâu là vấn đề trọng tâm của nghiên cứu, và tệ hơn là, nghiên cứu sinh khó có thể hoàn thành công trình nghiên cứu của mình trong thời gian ấn định. Do đó, trong phần kế hoạch nghiên cứu, nghiên cứu sinh phải trình bày rõ ràng giới hạn phạm vi nghiên cứu của mình. Nghiên cứu sinh không nên chạy theo tham vọng chọn những đề tài quá rộng, bao gồm hay liên hệ đến nhiều lãnh vực nghiên cứu khác nhau. Tham vọng như vậy chưa cần thiết lắm trong lúc viết luận án.

    Hai loại giới hạn phạm vi nghiên cứu

    Giới hạn phạm vi nghiên cứu bao gồm hai loại, đó là, giới hạn phạm vi nguồn văn học và giới hạn phạm vi của vấn đề nghiên cứu. Giới hạn phạm vi nguồn văn học thường là giới hạn tối thiểu hay tối đa nguồn tài liệu gốc mà nghiên cứu sinh sẽ tiến hành khảo sát. Giới hạn phạm vi vấn đề nghiên cứu là giới hạn vào các vấn đề nghiên cứu cụ thể trong khả năng và thời gian cho phép.

    Ví dụ

    Đề tài “Phê Bình Triết Học Tâm trong Kinh Lăng-già Tâm Aán” có giới hạn phạm vi nguồn văn học là “Kinh Lăng-già Tâm Aán” mà thôi (không bao gồm các Kinh điển Pali và Đại thừa khác) và có giới hạn phạm vi vấn đề nghiên cứu là “triết học tâm” mà thôi (không nghiên cứu đến các vấn đề khác như thế giới quan, thiền định, ngôn ngữ v.v....trong Kinh này).

    e) Định nghĩa các thuật từ

    Các thuật từ cần phải được định nghĩa một các chính xác, rõ ràng. Sự giải thích của các khám phá hay đóng góp tùy thuộc một phần vào cách định nghĩa các thuật từ.

    f) Tính chính xác của kế hoạch nghiên cứu

    Trong các nghiên cứu thực nghiệm, các phương pháp thống kê để kiểm chứng các giả thuyết cần phải được mô tả và khảo cứu thật chính xác và thích ứng. Sự chính xác và không chính xác có thể dẫn đến hệ quả các giả thuyết được chấp thuận hay bị bác bỏ. Ngược lại, trong các nghiên cứu phân tích hay phê bình văn học, sự mô tả rõ ràng các phương pháp sử dụng để xác định nguồn dữ liệu đóng vai trò quyết định và do đó cần phải mô tả rõ ràng.

    g) Mô tả số liệu và mẫu

    Phần lớn các nghiên cứu thuộc thực nghiệm đòi hỏi mẫu ngẫu nhiên hay tiêu biểu về số liệu hay mật độ xuất hiện. Vấn đề đặt ra là số liệu và mẫu đưa ra đó có chính xác không và phương pháp làm mẫu đó có thích hợp không?

    Các nghiên cứu phân tích hay phê bình văn bản cũng sử dụng mẫu và số liệu. Chẳng hạn như, trong một luận án về thơ ca Phật Giáo trong văn học Việt Nam sau 1975, tất cả số lượng và mẫu lựa chọn về cái gọi là “thơ ca Phật giáo” cần phải được nêu ra để thảo luận. Vấn đề sẽ cần phải nêu ra đối với tác phẩm này là số lượng tuyển chọn có tiêu chuẩn hay không, và cách đánh giá thơ Phật giáo có tiêu chuẩn không hay phát xuất từ những giả định mang tính cách cảm tính, định kiến hay thiên kiến?

    h) Kiềm chế sai suất

    Kiềm chế sai suất chỉ ứng dụng chủ yếu đối với các nghiên cứu thuộc thực nghiệm. Nhà thực nghiệm cần xem xét các biến thiên nào có thể diễn ra trong một tình huống cho sẵn. Trong phòng thí nghiệm, nhà thực nghiệm có thể dễ dàng kiềm chế các khả năng về biến thiên hay nguồn sai suất. Đối với các nghiên cứu hiện trường, nhà thực nghiệm thường chỉ hạn chế được các biến thiên mấu chốt và ngẫu nhiên hóa các cái còn lại. Trong cả hai trường hợp, các trị số biến thiên và cách kiềm chế của chúng cần được mô tả cụ thể và chi tiết.

    i) Độ tin cậy và tính giá trị

    Hình thành tính giá trị của các công cụ thử nghiệm và độ tin cậy là điều cần thiết với các nghiên cứu thực nghiệm. Nghĩa là, các thử nghiệm sẽ cung cấp các biện pháp đo lường thích hợp cũng như mục đích phục vụ của chúng. Trong các nghiên cứu phân tích hay phê bình văn học, việc đánh giá các dữ liệu cũng đóng vai trò quan trọng tương tự. Do đó, nghiên cứu sinh nên tham khảo các nguồn tài liệu gốc hơn là nguồn tài liệu hai. Càng ít sử dụng dịch thuật hay chuyển hóa thông tin hay tài liệu tham khảo càng ít có khả năng làm dị dạng hay bóp méo vấn đề được trình bày. Nghĩa là độ tin cậy và giá trị của nghiên cứu thường nằm ở các tài liệu gốc.

    4) Cấu Trúc Chương của Luận Án[6]

    Cũng như một ngôi nhà, cấu trúc chương được xem như khung sườn của văn bản hay luận án. Khung sườn càng cân đối thì ngôi nhà càng vững chắc. Tính cân đối của khung sườn luận án không nhất thiết bao gồm sự đồng đẳng về số trang của các chương. Cân đối ở đây được hiểu là các chương đóng một chức năng khác nhau và cùng nỗ lực làm cho tổng thể của luận án đạt được mục đích nghiên cứu của nó. Thông thường, một cấu trúc chương cân đối thường bao gồm chương dẫn nhập, các chương nội dung và chương kết luận.

    Chương dẫn nhập thường bao gồm lý do nghiên cứu về đề tài, lịch sử văn học về đề tài, giới hạn phạm vi nghiên cứu về đề tài, phương pháp nghiên cứu của đề tài, các giả thuyết hay đóng góp của nghiên cứu sinh.

    Chương cuối cùng thường là chương kết luận, nhằm trình bày những đóng góp của tác giả cũng như những đề nghị hay gợi ý cho các nghiên cứu chuyên sâu về đề tài.

    Đối với các chương nội dung, thông thường, các nghiên cứu thuộc thực nghiệm có thêm một vài chương về tiến trình cũng như kỹ thuật nghiên cứu (bao gồm giả thuyết, mẫu, thử nghiệm, thiết kế nghiên cứu) và một vài chương về kết quả nghiên cứu. Các nghiên cứu phân tích hay phê bình văn học, trái lại, thường có cấu trúc chương theo dạng biên niên (chẳng hạn như thời kỳ đồ đá nguyên thủy, thời kỳ đồ đá giữa và thời kỳ đồ đá muộn) hay được bố cục theo dạng phát triển logic (chẳng hạn như thơ, kịch, tiểu thuyết).

    Khung sườn chương của đề cương luận án nên được phác thảo tương đối chi tiết và phải thích ứng với phạm vi và phương pháp nghiên cứu đã chọn. Cấu trúc chương của luận án trong giai đoạn đề cương nghiên cứu chỉ là dự thảo và do đó, có thể được bổ sung, sửa chữa tùy theo nguồn tài liệu có được trong suốt quá trình nghiên cứu.

    5) Thư Mục Tham Khảo[7]

    Thư mục tham khảo của luận án thường bao gồm nguồn tài liệu gốc (Primary sources) hay văn bản gốc (Texts) và tài liệu hai (Secondary sources) hay tài liệu nghiên cứu (Studies). Các sách tham khảo này trước nhất đáp ứng cho công việc nghiên cứu ở giai đoạn viết đề cương và sau nữa là đáp ứng cho việc phác thảo một thư mục tham khảo hoàn chỉnh cho luận án. Do đó, thư mục tham khảo này thường được bổ sung theo thời gian mỗi khi nghiên cứu sinh phát hiện thêm nguồn tài liệu mới, thích ứng cho chủ đề nghiên cứu của mình. Thư mục tham khảo có thể bao gồm những sách được trích dẫn hoặc những sách chỉ tham khảo ý mà không có trích dẫn trong luận án.

    Nếu luận án thuộc công trình so sánh hai nhân vật hay học thuyết thì tài liệu tham khảo được phân bố theo biên niên của hai nhân vật theo thứ tự tài liệu gốc trước rồi đến tài liệu hai sau của từng nhân vật.

    Ví dụ, nếu đề tài luận án là “So Sánh Học Thuyết Ngôn Ngữ của Wittgenstein và Ngrjuna” thì bố cục của Thư mục tham khảo có thể được trình bày như sau:

    TÀI LIỆU THAM KHẢO
    (A) VỀ N€G€RJUNA
    1) Tài liệu gốc: Các sáng tác của Ngrjuna.

    2) Tài liệu hai: Các tác phẩm nghiên cứu về học thuyết ngôn ngữ của Ngrjuna.

    (B) VỀ WITTGENSTEIN

    1) Tài liệu gốc: Các sáng tác của Wittgenstein.

    2) Tài liệu hai: Các tác phẩm nghiên cứu về học thuyết ngôn ngữ của Wittgenstein.

    (C) CÁC TÁC PHẨM CHUNG

    1) Về học thuyết và tư tưởng chung của Ngrjuna và Wittgenstein.

    2) Về học thuyết của các triết gia có liên quan: giống và khác.

    D. Cách Trình Bày Đề Cương Luận Án

    1) Các Chi Tiết Yêu Cầu

    — Tựa đề của đề cương luận án.

    — Cấp văn bằng và môn học của đề cương luận án.

    — Năm nộp đề cương luận án.

    — Tên của nghiên cứu sinh.

    — Tên giáo sư hướng dẫn.

    — Tên bộ môn.

    — Tên trường đại học.

    — Địa điểm của trường.

    2) Qui Định về Trình Bày

    — Khổ của đề cương luận án là khổ giấy A-4.

    — Tất cả được trình bày ở giữa trang.

    — Tựa đề của đề cương luận án, tên nghiên cứu sinh và người hướng dẫn phải viết bằng chữ in hoa và đậm.

    — Các phần còn lại viết theo phong cách tiêu đề, nghĩa là viết hoa tất cả các chữ còn lại, ngoại trừ các giới từ, liên từ và mạo từ.

    — Tỉnh lược toàn bộ các dấu chấm câu.

    3) Mẫu Trình Bày Đề Cương Luận A'n



    A CRITIQUE OF
    WITTGENSTEIN’S THEORY OF MEANING





    A Synopsis for Registration

    in the Ph. D. Course in Philosophy

    Academic Year 1998-1999





    By

    THÍCH TRÍ NHÂN





    Under the Supervision of

    Dr. THÍCH CHÂN NGUYÊN

    Professor of Pali and Theravada Buddhism







    Department of Philosophy

    University of Delhi

    Delhi-110009





    II. BẢN TÓM TẮT LUẬN ÁN (ABSTRACT)

    1) Định Nghĩa

    Bản tóm tắt luận án (abstract) là bản phúc trình về một công trình nghiên cứu nhằm tóm lược các điểm chính yếu, các khám phá hay đóng góp của nghiên cứu sinh về một đề tài nào đó.

    2) Nội Dung Yêu Cầu

    Bản tóm tắt luận án thường bao gồm bốn phần sau đây:

    — Tuyên bố ngắn về vấn đề nguyên cứu.

    — Mô tả cô đọng về phạm vi và phương pháp nghiên cứu mà nghiên cứu sinh tiến hành trong luận án.

    — Tóm tắt vài nội dung quan trọng và những đóng góp nguyên thủy của nghiên cứu sinh.

    — Các đề nghị hay gợi ý về phương hướng cho các nghiên cứu chuyên sâu về đề tài về sau.

    3) Sự Khác Nhau giữa Đề Cương Luận Án (Synopsis/Research Proposal) và Bản Tóm Tắt Luận Án (Abstract)

    a) Về chi tiết: Đề cương luận án, ngoài bốn chi tiết trên, còn bao gồm thêm ba chi tiết khác, đó là, điểm lược văn học về đề tài, cấu trúc chương và thư mục tham khảo.

    b) Về tiến trình: Đề cương luận án chỉ là bản dự thảo khởi đầu cho một công trình nghiên cứu, trong khi bản tóm tắt luận án là kết quả nghiên cứu của công trình đó.

    c) Về nội dung:

    — Đề cương của luận án có thể thay đổi, bổ sung tùy theo mức độ có được của nguồn tài liệu cũng như khả năng và thời gian cho phép.

    — Bản tóm tắt luận án là kết luận của vấn đề đã được dày công nghiên cứu và do đó, không phải sửa chữa, bổ sung, nếu giáo sư hướng dẫn đã hài lòng.

    — Ngôn ngữ của đề cương luận án thường là ngôn ngữ giả thuyết về học thuyết mới hay giải pháp mới cho một vấn đề và giả thuyết hay giải pháp đó có thể thay đổi hay chỉnh lý trong quá trình nghiên cứu, trong khi đó, ngôn ngữ của bản tóm tắt luận án là ngôn ngữ kết quả của nghiên cứu với một giả thuyết và phương pháp mới cho một vấn đề tương đối thuyết phục với những luận chứng hỗ trợ và minh họa.

    [1] Về chương trình tiến sĩ của hệ thống Mỹ, xem E. M. Phillips and D. S. Pugh., op. cit., pp. 147-8ff.

    [2] Dịch ý của văn bằng M. Phil. của hệ thống Anh. M. Phil. là viết tắt của “Master of Philosophy,” có nghĩa là Cao học Triết học về một môn nào đó. Đây là văn bằng nghiên cứu sau văn bằng Cao học Văn chương (Master of Arts, viết tắt là M. A.) hay Cao học Khoa học (Master of Science, viết tắt là M. Sc.) về một môn học nào đó và chuẩn bị bước lên cấp Tiến sĩ Triết học (Doctor of Philosophy, viết tắt là Ph. D., mà người Việt Nam gọi tắt/thiếu là bằng Tiến sĩ). Việt Nam do ảnh hưởng hệ thống giáo dục của Liên Xô nên có thêm văn bằng Phó tiến sĩ, văn bằng đang hướng đến (phó là hướng đến) tiến sĩ. Thực ra, từ phó tiến sĩ mà người Việt Nam dùng là lấy lại dịch ngữ của Trung Quốc về văn bằng Kandidat nauk của Liên Xô, mà tiếng Anh thường dịch Candidate of Science (Private docent; associate professor). Khóa học này kéo dài từ hai đến năm năm. Hệ thống giáo dục Việt Nam bị ảnh hưởng theo hệ thống giáo dục của Liên Xô nhưng lại xài từ dịch của Trung Quốc, nên có người mới chơi chữ (đồng âm dị tự), biếm nhẽ rằng tiến sĩ gì mà cũng chia ra phó và chánh, như chức vụ vậy.

    [3] Xem chi tiết ở phần III, chương “Tiến trình soạn thảo khảo luận, luận văn và luận án.”

    [4] Tiếng Anh là “Designing the Study” hay “Design of the Study.” Đối với một số trường đại học hoặc đối với một số bộ môn, phần này chỉ bao gồm phần “Giới hạn và phương pháp nghiên cứu đề tài” (Scope and Approaches of the Research) mà thôi.

    [5] Xem phần III của chương “Tiến trình soạn thảo bài khảo luận, luận văn và luận án.”

    [6] Tiếng Anh là “Structure of the Proposed Thesis.” Bạn có thể dùng các cụm từ đồng nghĩa như “Dàn bài của chương” (The Chapter Outline) hay “Kế hoạch chương giả định” (Tentative Chapter Plan) hay Sự phân chương (Chapterization). Về chi tiết, xem thêm phần III của chương “Cấu trúc của luận án.”

    6 Về cách trình bày thư mục tham khảo, hãy xem chương “Thư mục tham khảo.”
     
  5. admin

    admin Administrator Staff Member

    Tham gia :
    16/04/2018
    Bài viết:
    14.278
    Lượt thích:
    189
    Điểm thành tích:
    125.887
    CẨM NANG VIẾT
    KHẢO LUẬN, LUẬN VĂN VÀ LUẬN ÁN

    Thích Nhật Từ
    CHƯƠNG V
    CÁCH TÌM TÀI LIỆU TRONG THƯ VIỆN
    (HOW TO FIND MATERIALS IN LIBRARY)


    I. DẪN NHẬP

    Tài liệu nào cũng quý và có giá trị nếu bạn biết cách phát hiện và sử dụng chúng. Thư viện thông thường là nơi tàng trữ hầu hết tất cả những sách vở cần thiết cho nhà nghiên cứu. Khả năng bộ nhớ và chứa dữ liệu của bộ não con người rất là có giới hạn trong phạm vi những gì cần thiết nhất. Bạn không thể nhớ hết tất cả những gì bạn đọc. Bạn không thể đọc hết những gì đã được viết từ trước đến giờ. Do đó, thư viện có thể thay thế bộ não của con người trong việc chứa tất cả những dữ liệu, thông tin và kiến thức của con người. Công việc của nhà nghiên cứu không phải để nhớ mà nhằm xử lý và ứng dụng các thông tin trong sáng tác và thực nghiệm. Vấn đề là nhà nghiên cứu cần nắm vững xuất xứ của nguồn tài liệu và chỉ việc vào thư viện để sử lý nguồn tài liệu theo góc độ nghiên cứu của riêng mình.

    II. CHỨC NĂNG CỦA THƯ VIỆN

    1. Ngân hàng lưu trữ tất cả những thành quả trí thức của nhân loại dưới dạng văn bản.

    2. Hỗ trợ một cách đắc lực cho nhà nghiên cứu trong sáng tác.

    3. Giúp nhà nghiên cứu tiết kiệm tiền bạc trong việc sử dụng mà khỏi phải mua tất cả những sách vở cần thiết.



    III. TIÊU CHÍ TÌM SÁCH

    Để công việc tìm sách có hiệu quả và đỡ mất thời gian, nhà nghiên cứu nên ghi nhớ một số tiêu chí sau đây:.

    — Xác định chủ đề tìm kiếm.

    — Loại sách và tạp chí nào hữu dụng cho đề tài của ta?

    — Địa điểm có các sách và tạp chí hữu dụng đó?

    — Làm thế nào để xác định được vị trí của chúng trong thư viện?

    — Làm thế nào để lấy được nhiều thông tin bằng phương cách giản tiện và không phiền hà?

    — Cách thức ghi chú và lưu trử tài liệu đã phát hiện này?



    IV. TÌM TÀI LIỆU QUA HỆ THỐNG CÁC THƯ MỤC CHÍNH

    Nếu thư viện là kho tàng tàng trữ tất cá các tài liệu sáng tác của con người thì thư mục là cách sắp xếp các tài liệu nghiên cứu theo một trật tự và bố cục nhất định, nhằm giúp cho nhà nghiên cứu dễ dàng tìm kiếm và xử dụng những thông tin cần thiết. Trong một thư viện, có nhiều loại thư mục khác nhau được xử dụng để phân loại các chủ đề sáng tác. Để dễ dàng tìm kiếm các loại tài liệu cần thiết cho tác phẩm nghiên cứu ở mức độ đơn thuần, người nghiên cứu chỉ cần tìm kiếm 3 loại thư mục chính sau đây:

    1. Thư Mục Tác Giả (Author-wise Bibliography)

    Là danh sách các sáng tác hay tác phẩm được sắp xếp theo trật tự của mẫu tự họ và tên tác giả. Thứ tự của loại thư mục này như sau: Họ, tên, chữ lót., tên tác phẩm in nghiêng. Nơi XB: Nhà XB, năm XB. Loại thư mục này giúp bạn tìm kiếm các tác phẩm liên hệ đến đề tài nghiên cứu của mình từ các tác giả mà mình quen biết hay thích, mà không cần biết đến tên tựa đề các tác phẩm. Trong trường hợp bạn biết rõ chi tiết về tên họ tác giả, tên tác phẩm, nơi, nhà và năm xuất bản của một tác phẩm nào đó thì việc tìm tác phẩm đó trở nên dễ dàng hơn nhiều. Bạn chỉ việc ghi mã số thư mục của tài liệu mà bạn cần, sau đó, bạn dựa vào hệ thống phân loại thập phân Dewey để xác định nơi tác phẩm đang được lưu trữ trong thư viện.

    2. Thư Mục Tựa Đề (Title-wise Bibliography)

    Là danh sách các sáng tác hay tác phẩm được sắp xếp theo trật tự của mẫu tự tựa đề tác phẩm. Thứ tự của loại thư mục này như sau: Tên tác phẩm in nghiêng, (ed/ tr) [đối với tác phẩm biên tập hoặc dịch] tên, chữ lót., họ tác giả/ dịch giả. Nơi XB: Nhà XB, năm XB.[1] Loại thư mục này giúp bạn tìm ra được mã số thư viện của một tác phẩm nào đó bằng cách tra vào tên tác phẩm hay dịch phẩm, trong trường hợp bạn không nhớ / biết chi tiết về tên họ tác giả / dịch giả, nơi, nhà và năm xuất bản của tác phẩm mà bạn đang tìm.

    3. Thư Mục Chủ Đề (Subject Bibliography)

    Là danh sách tập hợp các sáng tác hay tác phẩm cùng một chủ đề. Chủ đề ở đây có thể là con người, nơi chốn, thời kỳ, vấn đề hay đề tài nào đó. Loại thư mục này cung cấp cho nhà nghiên cứu nhiều tài liệu về chủ đề mà họ đang theo đuổi. Thư mục này có thể được sắp xếp theo thứ tự tên tác giả / dịch giả hay tên tác phẩm / dịch phẩm, tùy theo từng thư viện. Rất tiếc là có quá ít thư viện có loại thư mục này.

    V. HỆ THỐNG PHÂN LOẠI THẬP PHÂN DEWEY

    Măc dù có nhiều hệ thống phân loại sách trong thư viện, hệ thống thập phân của Dewey (Dewey Decimal System)[2] được ưa chuộng và sử dụng trong hầu hết các thư viện trên thế giới.[3]Theo hệ thống này, toàn bộ kiến thức của nhân loại hay sách vở được phân thành mười loại chính và được cấu trúc theo một trật tự những môn từ tổng quát đến các môn cụ thể. Mỗi một phân loại bao gồm 100 số. Mỗi đơn vị thập phân sẽ đi chuyên về một lãnh vực học thuật nào đó. Do đó toàn bộ mười phần loại sẽ bao gồm 1000 số, với nhiều chuyên đề của các ngành học khác nhau.

    a) Hệ Thống Thập Phân Dewey Tổng Quát

    (The 10 Main Classes)[4]

    Từ 000 đến 099: Các tác phẩm tổng quát (General Works or Generalities)
    — 100— 199: Triết học và Tâm lý học (Philosophy and Psychology)
    — 200— 299: Tôn giáo và Thần học (Religions and Theology)
    — 300— 399: Khoa học xã hội và Thương mại (Social Sciences and Commerce)
    — 400— 499: Ngôn ngữ học và các Ngôn ngữ (Linguistics and Languages)
    — 500— 599: Toán học và Khoa học tự nhiên (Mathematics and Natural Sciences)
    — 600— 699: Khoa học ứng dụng, Y học, Kỹ thuật và Quản trị (Applied Sciences, Medicine, Technology and Management)
    — 700— 799: Nghệ thuật, Tiêu khiển, Giải trí và Thể thao (Arts, Recreation, Entertainment and Sports)
    — 800— 899: Văn học và Văn chương (Literature and Belles-letters)
    — 900— 999: Địa lý học, Tiểu sử và Sử học (Geography, Biography, History)
    Ví dụ, nếu bạn đang nghiên cứu về ngôn ngữ Đức thì nguồn tài liệu gốc cho đề tài của bạn sẽ mang số phân loại từ 430439. Các sách có số phân loại khác như từ 410— 429 và 440— 490 sẽ là nguồn tài liệu hai của đề tài của bạn. Do đó, để có được những thông tin hay kiến thức nguyên thủy về đề tài ngôn ngữ Đức của bạn, bạn nên tập trung tìm đọc các tài liệu gốc này. Để tham khảo về phương pháp hay kinh nghiệm nghiên cứu của các học giả khác về các ngôn ngữ khác, bạn có thể đọc một cách có chọn lọc các tác phẩm hay, trong số phân loại từ 410 đến 429 và từ 440 đến 490.

    b) Hệ Thống Thập Phân Dewey Hàng Trăm (The 100 Divisions)[5]

    1. Các Tác Phẩm Tổng Quát (General Works) 000 099

    010: Thư tịch và danh mục liệt kê tổng quát (Bibliographics and Catalogues)
    020: Thư viện và thông tin học (Library and Information Science)
    030: Từ điển bách khoa (General Encyclopedic works)
    040: Luận thuyết, luận án, tài liệu (dissertations, theses, materials)
    050: Các ấn phẩm nhiều tập (General serial publications)
    060: Cơ quan và hội đoàn (General organizations)
    070: Báo chí học, xuất bản và báo (Journalism, publishing, newspapers)
    080: Tuyển tập và các khảo cứu tổng quát (General collections)
    090: Bản thảo và sách quý hiếm (Manuscripts, book rarities)
    2. Triết Học và Tâm Lý Học (Philosophy -Psychology) 100199

    110: Siêu hình học (Metaphysics)
    120: Nhận thức luận, nguyên nhân, mục đích và con người (Knowledge, cause, purpose and man)
    130: Tâm linh học và Huyền bí học (Parapsychology and Occultism)
    140: Các học thuyết triết học (Philosophical viewpoints)
    150: Tâm lý học (Psychology)
    160: Logic học (Logic)
    170: Đạo đức học (Ethics or Moral Philosophy)
    180: Triết học phương Đông, Cổ đại và Trung đại (Ancient, Medieval and Oriental Philosophy)
    190: Triết học phương Tây hiện đại (Modern Western Philosophy)
    3. Tôn Giáo và Thần Học (Religions and Theology) 200 299

    210: Tôn giáo tự nhiên (Natural religion)
    220: Thánh kinh (Bible)
    230: Thần học giáo lý Ky-tô giáo (Christian doctrinal theology)
    240: Luân lý và tín lý Ky-tô giáo (Christian moral and devotional)
    250: Giáo hội địa phương và các giáo đoàn (Local church and religious orders)
    260: Thần học xã hội (Social theology)
    270: Lịch sử và địa lý giáo hội Ky-tô (History and Geography of Church)
    280: Chi phái và giáo phái Ky-tô giáo (Christian denominations and sects)
    290: Các tôn giáo ngoài Ky-tô giáo và so sánh tôn giáo (Other religions and comparative)
    4. Khoa Học Xã Hội và Thương Mại (Social Sciences and Commerce) 300399

    310: Thống kê học (Statistics)
    320: Chính trị học (Political Science)
    330: Kinh tế học (Economics)
    340: Luật học (Law)
    350: Hành chánh học (Public administration)
    360: Dịch vụ và bệnh lý xã hội (Social pathology and service)
    370: Giáo dục học (Education)
    380: Thương mại học (Commerce)
    390: Phong tục và văn hóa dân gian (Custom and Folklore)
    5. Ngôn Ngữ Học và các Ngôn Ngữ (Linguistics and Languages) 400 499

    410: Ngôn ngữ học (Linguistics)
    420: Tiếng Anh và Anglo-saxon (English and Anglo-Saxon)
    430: Tiếng Đức và các ngôn ngữ Đức (Germanic languages, German)
    440: Tiếng Pháp (French)
    450: Tiếng La-mã và tiếng Ý (Italian and Romanian)
    460: Tiếng Tây-ban-nha và Bồ-đào-nha (Spanish and Portuguese)
    470: Tiếng La-tinh (Latin)
    480: Tiếng Hy-lạp cổ (Hellenic Classical Greek)
    490: Các ngôn ngữ khác (Other languages)
    6. Toán học và Khoa học tự nhiên (Mathematics and Natural Sciences) 500599

    510: Toán học (Mathematics)
    520: Thiên văn học và các khoa học liên hệ (Astronomy and Allied Sciences)
    530: Vật lý học (Physics)
    540: Hóa học và các khoa học liên hệ (Chemistry and Allied Sciences)
    550: Địa cầu học và các thế giới khác (Sciences of earth and other worlds)
    560: Cổ sinh vật học (Paleontology)
    570: Nhân chủng học và sinh vật học (Life Sciences)
    580: Thực vật học (Botanical Sciences)
    590: Động vật học (Zoological Sciences)
    7. Khoa Học Ứng Dụng, Y Học, Kỹ Thuật và Quản Trị
    (Applied Sciences, Medicine, Technology and Management)
    600699
    610: Y học (Medical Sciences)
    620: Kỹ sư và các ngành liên hệ (Engineering and allied operations)
    630: Canh nông và kỹ nghệ canh nông (Agriculture and related)
    640: Nghệ thuật gia chánh học (Domestic arts and sciences)
    650: Dịch vụ quản lý (Managerial services)
    660: Kỹ thuật hóa học và các ngành liên hệ (Chemical and related technologies)
    670: Sản phẩm công nghệ (Manufactures)
    680: Sản phẩm kỷ nghệ tạp (Miscellaneous Manufactures)
    690: Các công trình cao ốc (Buildings)
    8. Nghệ Thuật, Giải Trí và Thể Thao
    (Arts, Recreation, Entertainment and Sports)
    700799
    710: Nghệ thuật phong cảnh và đô thị (Civic and landscape arts)
    720: Kiến trúc (Architecture)
    730: Điêu khắc và nghệ thuật chất dẻo (Plastic arts and Sculpture)
    740: Nghệ thuật trang trí và vẽ (Drawing and decorative arts)
    750: Hội họa và họa phẩm (Painting and paintings)
    760: Tranh ảnh nghệ thuật đồ họa (Graphic arts prints)
    770: Nhiếp ảnh và hình ảnh (Photography and photographs)
    780: Âm nhạc (Music)
    790: Nghệ thuật tiêu khiển và biểu diễn (Recreational and performing arts)
    9. Văn Học và Văn Chương (Literature and Belles-Letters) 800899

    810: Văn học Mỹ (American literature)
    820: Văn học Anh (English and Anglo-Saxon literature)
    830: Các dòng văn học ngôn ngữ Đức (Literatures of German languages)
    840: Các dòng văn học ngôn ngữ La-mã (Literatures of Romance languages)
    850: Văn học Ý và La-mã (Italian and Romanian)
    860: Văn học Tây-ban-nha và Bồ-đào-nha (Spanish and Portuguese literatures)
    870: Văn học La-tinh (Latin literature)
    880: Văn học ngôn ngữ Hy-lạp cổ (Hellenic language literatures)
    890: Văn học các ngôn ngữ khác (Literatures of other languages)
    10. Địa Lý Học, Tiểu Sử và Sử Học (Geography, Biography and History) 900999

    910: Địa lý tổng quát (General geography)
    920: Tiểu sử, gia phổ học (General biography and Genealogy)
    930: Lịch sử cổ đại (General history of ancient world)
    940: Lịch sử châu Âu (General history of Europe)
    950: Lịch sử châu Á (General history of Asia)
    960: Lịch sử châu Phi (General history of Africa)
    970: Lịch sử châu Bắc Mỹ (General history of North America)
    980: Lịch sử châu Nam Mỹ (General history of South America)
    990: Lịch sử của các nước còn lại (General history of other areas)
    [1] Loại thư mục tựa đề cũng thường được sử dụng trong các quyển catalogue giới thiệu sách của các nhà xuất bản.

    [2] P. S. G. Kumar., Practical Guide to DDC 20. (Nagbur: Dattsons, 1990), p. 3; R. L. Sehgal., An Introduction to Universal Decimal Classification. (Delhi: Ess Ess Publications, 1994), p. 4; P. N. Kaula., Library Science Today. (New York: Asia Publishing House, 1962), pp. 323-50; Das., op. cit., p. 16.

    [3] H. Bose., Documentation: a Progressive Review in R. S. Sharma (ed.) Bibliography and Documentation. (Patiala: Madan Publishers, 1974), p. 182.

    [4] P. S. G. Kumar., op. cit., p. 32; R. L. Sehgal., op. cit., p. 12; M. L. Wali and A. M. Baba., Manual of Library Classification Practice for Dewey Decimal and Colon Classification Schemes. (Srinagar: 1982), p. 23.

    [5] R. L. Sehgal., op. cit., pp. 39-50; P. S. G. Kumar., op. cit., pp. 12-35; Wali and Baba., op. cit., pp. 24-6. Về hệ thống thập phân hàng ngàn (The 1000 Sections), hãy xem: Wali and Baba., op. cit., pp. 27-59.
     
  6. admin

    admin Administrator Staff Member

    Tham gia :
    16/04/2018
    Bài viết:
    14.278
    Lượt thích:
    189
    Điểm thành tích:
    125.887
    CẨM NANG VIẾT
    KHẢO LUẬN, LUẬN VĂN VÀ LUẬN ÁN

    Thích Nhật Từ
    CHƯƠNG VI
    CƯỚC CHÚ VÀ HẬU CHÚ
    (FOOTNOTE AND ENDNOTE)
    I. ĐỊNH NGHĨA CƯỚC CHÚ VÀ HẬU CHÚ


    Cước chú là phần giải thích, phụ chú, dẫn chứng, đánh giá hay lời nhận định được trình bày ở cuối mỗi trang giấy của một bài nghiên cứu, tiểu luận, luận văn, luận án hay sách.

    Hậu chú cũng là phần giải thích, phụ chú, dẫn chứng, đánh giá hay lời nhận định nhưng được trình bày hoặc ở cuối mỗi chương hoặc ở cuối tác phẩm.

    Các cước chú và hậu chú phải chính xác, rõ ràng, gọn gàng và dễ hiểu để giúp người đọc nắm vững vấn đề đang trình bày hơn. Không nên làm cước chú hay hậu chú cho các đề cương nghiên cứu hay bản tóm tắt của luận văn hay luận án. Các thông tin nào của văn bản làm cho độc giả phải phân tâm và không tập trung vào nội dung chính đang trình bày thì nên cho vào phần giải thích của cước chú hay hậu chú. Các chú thích nào không thích ứng hay liên hệ đến đề tài hay nội dung đang trình bày thì không nên đưa vào phần cước chú hay hậu chú.

    Cước chú và hậu chú thường bao gồm hay cung cấp cho người đọc các chi tiết sau đây: tên tác giả; tựa đề của tác phẩm; nơi xuất bản; tên nhà xuất bản; năm xuất bản hay năm tái bản; số trang trích dẫn; nội dung chú thích.

    II. CHỨC NĂNG CỦA CƯỚC CHÚ VÀ HẬU CHÚ
    Các cước chú và hậu chú thông thường được sử dụng để:

    1) Cảm ơn các nguồn thẩm quyền về thông tin mà người viết có được do tham vấn hay trao đổi trực tiếp hoặc gián tiếp với nguồn thẩm quyền đó.

    2) Cho biết nguồn trích dẫn là trực tiếp hay gián tiếp.

    3) Giải thích, phụ chú hay nói rõ nguồn tài liệu được xử dụng trong văn bản.

    4) Đánh giá một quan điểm, một phán đoán hay một luận chứng trong văn bản.

    5) Định nghĩa từ, chua từ, giải thích từ, cụm từ, câu hay ý tứ của văn bản gốc.

    6) Cung cấp tài liệu tham khảo chéo (cross-references) cho các phần khác của văn bản.

    7) Cung cấp cho độc giả những thông tin cần thiết về nguồn tài liệu trưng dẫn để giúp độc giả có thể dễ dàng trong việc kiểm chứng hay tham khảo độc lập và chuyên sâu về thông tin hay nội dung được chú thích đó.

    III. ƯU ĐIỂM VÀ KHUYẾT ĐIỂM CỦA CƯỚC CHÚ VÀ HẬU CHÚ
    1. Ưu điểm của cước chú là giúp cho nhà nghiên cứu biết liền nguồn tài liệu tham khảo hay dẫn chứng để từ đó có thể kiểm chứng hay tham khảo chuyên sâu nguồn tài liệu tham khảo đó mà khỏi phải mất công lật tới lật lui nhiều trang khác nhau để tìm kiếm. Tuy nhiên, cước chú có khuyết điểm là làm cho phần trình bày của sách mất đi tính thẩm mỹ của nó, do sự mất cân đối giữa các trang của văn bản cũng như giữa phong chữ của văn bản chính và phong chữ của phần cước chú văn bản đó. Kế đến, cước chú còn có thể làm cho giới độc giả bình dân (những người không có nhu cần tìm hiểu chuyên sâu về nguồn tài liệu trích dẫn, mà chỉ chủ yếu thưởng thức nội dung cung cấp) phải rối mắt và phân tâm, không tập trung vào nội dung chính của văn bản, do sự xuất hiện bất thường và nhiều lần của chúng.

    2. Ưu điểm của hậu chú là làm cho phần trình bày của sách trở nên thẩm mỹ hơn và giúp cho độc giả bình dân tập trung dễ dàng hơn trong khi đọc mà không phải bị phân tâm do sự xuất hiện của các chú thích. Tuy nhiên, vì chủ yếu đáp ứng cho độc giả thông thường, các hậu chú thường làm phiền các nhà nghiên cứu phải lật ra cuối chương hay cuối tác phẩm nhiều lần để kiểm chứng hay nghiên cứu chuyên sâu một vấn đề được đưa ra trong hậu chú.

    Tùy theo sở thích và dụng ý phục vụ của tác phẩm, các tác giả hay dịch giả có thể chọn phong cách cước chú hay hậu chú cho riêng mình. Tuyệt đối không có tiêu chuẩn bắt buộc phải chú thích bằng cước chú hay hậu chú. Chú thích văn bản chỉ là vấn đề sở thích và chọn lựa để phục vụ đối tượng độc giả mà thôi.

    IV. CÁCH ĐÁNH SỐ VÀ TRÌNH BÀY CƯỚC CHÚ VÀ HẬU CHÚ
    1. Các Ký Hiệu để Ghi Cước Chú và Hậu Chú


    Các ký hiệu cước chú và hậu chú thường là các con số á-rập được đánh theo thứ tự từ số 1 cho đến số hàng trăm, tương ứng với số thứ tự xuất hiện của chúng trong văn bản. Thỉnh thoảng có một số tác giả không sử dụng các con số á-rập mà chỉ sử dụng các dấu hoa thị, dấu sao hoặc các ký hiệu khác. Số lượng các dấu hoa thị, dấu sao hay ký hiệu này phải tương ứng với số thứ tự xuất hiện của các cước chú và hậu chú. Nghĩa là cước chú 1 thì đánh một hoa thị. Cước chú 2 thì đánh 2 hoa thị. Tương tự, cước chú 5 thì đánh 5 hoa thị. Do đó, cách trình bày loại cước chú và hậu chú này không đẹp và trở nên rườm rà và chỉ thích ứng với các văn bản có vài cước chú mà thôi.

    2. Cách Đánh Số Cước Chú và Hậu Chú

    a) Vị trí của các con số cước chú hay hậu chú phải được đánh ngay sau những thuật ngữ, nhân danh, địa danh hay tên tác phẩm…cần được chú thích.

    b) Nếu liền sau các thuật ngữ, nhân danh, địa danh hay tên tác phẩm cần chú thích này là các dấu phẩy, dấu chấm phẩy, dấu chấm, dấu hai chấm, dấu ngoặc đơn, dấu ngoặc kép…thì các con số cước chú phải được đánh ngay sau các dấu này, và được đánh cao hơn hàng chữ thường bằng một co chữ có kích thước nhỏ hơn với phong chữ đang đánh.

    c) Ví dụ:

    — Đạo Phật1 là tôn giáo bất bạo động (ahimsa)2 và an lạc (nirvÏa).3

    — “Đạo Phật,4 tôn giáo của hòa bình và an lạc,5 đang đón tiếp mọi người.”6

    3. Ba Phong Cách Cước Chú

    a) Cước chú từng trang

    Số thứ tự của cước chú sẽ được đánh lại từ đầu sau mỗi trang của tác phẩm. Nghĩa là, đánh số cước chú theo số thứ tự 1, 2, 3…cho trừng trang một. Sang trang mới, số cước chú phải được bắt đầu lại từ số thứ tự 1, 2, 3…Cứ như vậy, đánh lại số thứ tự cước chú từ đầu cho các trang còn lại của tác phẩm.

    Cách cước chú này chỉ có lợi cho các nhà xuất bản không có máy vi tính như trước đây, dễ dàng thêm bớt các cước chú mới mà không phải thay đổi nhiều đến toàn bộ trật tự của chúng trong tác phẩm. Bất tiện kế đến của cước chú này là chúng ta khó biết được rằng có tất cả bao nhiêu cước chú trong văn bản hay tác phẩm đó. Ngày nay, do sự phát triển của công nghệ vi tính, cách cước chú này không còn được ưa chuộng nữa, vì máy vi tính có thể giúp tác giả làm lại trật tự số cước chú một cách hiệu quả và nhanh chóng, khi có thêm hay bớt đi các cước chú khác vào văn bản.

    b) Cước chú toàn tác phẩm

    Số thứ tự của cước chú sẽ bắt đầu bằng 1, 2, 3 và sẽ tăng dần đều cho đến cước chú cuối cùng trong toàn bộ tác phẩm. Nghĩa là, nếu tác phẩm có tất cả 500 cước chú thì con số cước chú cuối cùng của tác phẩm đó phải là 500.

    Cách cước chú này chỉ có thể ứng dụng cho các tác phẩm có số lượng cước chú tương đối ít, và do đó, rất bất tiện và làm mất thẩm mỹ cho các tác phẩm có số lượng cước chú đến hàng trăm và ngàn.

    c) Cước chú từng chương

    Số thứ tự của cước chú sẽ được đánh lại từ đầu sau mỗi chương. Cứ như vậy, áp dụng cho đến chương cuối cùng của tác phẩm. Nghĩa là, vào đầu các chương 2, 3, 4 số cước chú bắt đầu vẫn là các con số 1, 2, 3.

    Cách cước chú này giúp cho người đọc biết được số lượng xuất hiện của cước chú trong mỗi chương cũng như trong toàn bộ tác phẩm. Đây là phong cách cước chú được ưa chuộng nhất trong ba phong cách trình bày cước chú.

    4. Hai Phong Cách Hậu Chú

    a) Hậu chú sau mỗi chương

    Số thứ tự của các hậu chú sẽ được đánh lại từ đầu sau mỗi chương. Cứ như vậy, áp dụng cho đến chương cuối cùng của tác phẩm. Nghĩa là, vào đầu các chương 2, 3, 4… số hậu chú bắt đầu vẫn là các con số 1, 2, 3.

    b) Hậu chú toàn sách

    Toàn bộ các chú thích của tác phẩm được đặt ở gần cuối sách, sau chương cuối và trước phần Appendix hay Bibliography của tác phẩm đó. Số thứ tự của hậu chú toàn sách sẽ được đánh lại từ đầu sau mỗi chương, và các chương này được sắp liên tục với nhau từ chương thứ nhất đến chương sau cùng.

    Nên lưu ý rằng tiêu đề của hai loại hậu chú này chỉ đơn thuần là “CHÚ THÍCH” (Notes) hay “CHÚ THÍCH và THAM KHẢO” (Notes and References): một đàng được đặt sau mỗi chương và một đàng được đặt ở cuối sách.

    V. CÁC QUI ĐỊNH VỀ CƯỚC CHÚ VÀ HẬU CHÚ
    Tùy theo bản chất loại hình của tài liệu tham khảo (như bài báo, sách, tự điển, tuyển tập v.v...) và phong cách cước chú (vắn tắt hay chi tiết), các yếu tố cần và đủ của cước chú hậu chú sẽ khác nhau. Thông thường, các cước chú hay hậu chú về tài liệu tham khảo phải gồm các chi tiết sau: tên tác giả, tên tác phẩm, nơi XB, nhà XB, năm XB, số trang và nôïi dung chú thích. Đối với các cước chú hay hậu chú mang tính cách ghi chú, phụ chú hay giải thích thêm thì không cần đầy đủ các yếu tố trên nhưng phải gọn, chính xác và đi vào trọng tâm vấn đề.

    1. Luật Viết Đủ, Tỉnh Lược các Chi Tiết của Tài Liệu Tham Khảo

    a) Trong lần chú thích đầu tiên về một tác phẩm nào đó, ta phải ghi đủ các yếu tố sau đây: Tên tác giả, tên tác phẩm in nghiêng, nơi XB, nhà XB, năm XB, số trang. (Lưu ý: năm XB có thể đặt sau tên tác giả và nằm trong dấu ngoặc đơn).

    b) Trong lần chú thích thứ hai trở đi về một tác phẩm đã được trích dẫn, để tránh rườm rà và trùng lập, ta nên dùng các ký hiệu tắt “ibid, (Sđd), loc. cit., (Ctsđd) op. cit. (Sđd)” để tỉnh lược tên tác giả, tên tác phẩm, nơi XB, nhà XB và năm XB; và dùng “p hay pp (tr.)để thay thế cho trang hay các trang đối với các tác phẩm Anh Pháp, và “tr.” cho tác phẩm tiếng Việt. Chi tiết của phần này sẽ được trình bày ở phần IX của chương này về cách sử dụng ibid; loc. cit.; op. cit..

    2. Trật Tự Tên Tác Giả

    a) Nếu tác giả là người Âu Mỹ thì tên họ của ông/bà được ghi theo trật tự sau: Tên+ Chữ lót + Họ (nếu viết tắt tên và chữ lót thì giữa chúng và sau chữ lót phải có dấu chấm). Nhưng đối với thư mục tham khảo cuối sách, trật tự này như sau: Họ + Tên + Chữ lót.

    b) Nếu tác giả là người Trung Quốc thì tên họ của ông/bà được ghi theo trật tự sau: Họ (dấu phết) Chữ lót-tên (chữ lót hoa, tên viết thường và có gạch nối ở giữa).

    c) Nếu tác giả là người Việt Nam thì tên họ của ông/bà được ghi theo trật tự sau: Họ-Chữ lót-Tên (viết hoa đầy đủ và có gạch nối giữa các thành tố). Cách viết này giúp cho người Việt Nam dễ dàng tra cứu nhân danh người Việt trong các tác phẩm Anh Pháp hơn; bằng không tên sẽ được hiểu là họ và ngược lại, họ là tên.

    d) Tên và chữ lót của tác giả Âu Mỹ có thể viết tắt bằng các chữ cái đầu tiên với một dấu chấm sau chúng. Nhưng nếu tác giả là người nữ thì tên của bà không được viết tắt.

    3. Luật Viết Hoa và Nghiêng đối với Tên Tác Phẩm Tham Khảo

    a) Viết hoa toàn bộ tên họ tác giả, Nơi XB, Nhà XB.

    b) Viết hoa tên tác phẩm, ngoại trừ các liên từ, giới từ, mạo từ. Nếu ba từ loại này đứng đầu câu trong tên tác phẩm tham khảo thì chúng phải được viết hoa.

    c) Chỉ in nghiêng tên tác phẩm và các thuật ngữ tiếng nước ngoài.

    4. Chi Tiết về Ấn Bản: bao gồm nơi XB, nhà XB, năm XB.

    a) Ghi đầy đủ nơi xuất bản và tên nhà xuất bản. Nếu trong tài liệu tham khảo không có ghi tên nhà xuất bản thì ta ghi ký hiệu “n.p.” (no publisher) cho tác phẩm tiếng Anh; “p.e.” (pas d’éditions) cho tác phẩm tiếng Pháp và knxb (không nhà xuất bản) cho tác phẩm tiếng Việt.

    b) Ghi rõ năm xuất bản (và năm tái bản cuối cùng, nếu có) của tác phẩm được trưng dẫn. Nếu trong tài liệu tham khảo không có ghi năm xuất bản và tái bản thì ta ghi ký hiệu “n.d.” (no date of publication) cho tác phẩm tiếng Anh; “p.d.” (pas de date) cho tác phẩm tiếng Pháp và kn (không năm xuất bản) cho tác phẩm tiếng Việt.

    c) Năm XB có thể đặt sau nhà XB theo trật tự sau đây (Nơi XB: NhàXB, năm XB), và cũng có thể đặt sau tên tác giả nhưng phải bỏ trong ngoặc đơn và sau nó phải có dấu chấm.

    5. Về Số Trang: Trước số trang, ta ghi ký hiệu “p.” (chỉ một trang) hay “pp.” (2 trang trở đi) cho tác phẩm tiếng Anh hay tiếng Pháp và ký hiệu “tr.” cho tác phẩm tiếng Việt.

    VI) PHONG CÁCH TRÌNH BÀY CƯỚC CHÚ, HẬU CHÚ CHI TIẾT[1]

    a) SÁCH

    1. Sách chỉ Có một Tác Giả

    Tên họï tác giảû. (năm XB) Tên tác phẩm in nghiêng, số tập, Nơi XB: NXB.

    Alex Wayman. (1974). The Lion’s Roar of Queen Ưriml, New York: Columbia University Press.

    Tên họ tác giả., Tên tác phẩm in nghiêng, số tập, (Nơi XB: NXB, năm XB).

    G. Sopa., Lectures in Tibetan Buddhism, 2 vols, (Delhi: Motilal Banarsidass, 1986).

    2. Sách chỉ Có một Người Dịch hay Biên Tập

    Tên họï người biên tập. (ed. / bt.) (năm XB) :)) Tên tác phẩm in nghiêng, số tập, Nơi XB, NXB.

    L. Lancaster. (ed.) (1977). Praj–pramit and Related Systems, Berkeley, University of California Press.

    Tên họï dịch giảû. (trans. / d.) (năm XB) :)) Tên tác phẩm in nghiêng, số tập, Nơi XB: NXB.

    S. Anacker. (trans.) (1984. Seven Works of Vasubandhu, Delhi: Motilal Banarsidass.

    Phạm Kim Khánh. (dịch) (1991). Đức Phật và Phật Pháp, Hồ Chí Minh: Thành Hội Phật Giáo TP. Hồ Chí Minh.

    3. Sách Gồm Có Dịch Giả và Người Ấn Hành

    Tên họ dịch giả. (trans. / d.), Họ, tên người ấn hành. (ed. / bt.) (năm XB) Tên dịch phẩm in nghiêng (tên nguyên tác trong ngoặc đơn in nghiêng), Nơi XB: NXB.

    K. Bhattacharya. (trans.), Johnston, E. H. and Kunst, A. (eds) (1978). The Dialectical Method of Ngrjuna (Vigrahavyvartan), Delhi: Motilal Banarsidass.

    4. Sách Gồm Có Tác Giả và Người Ấn Hành / Biên Tập

    Tên họï tác giả. (năm XB) Tên tác phẩm in nghiêng, ed. / bt. Tên họ người ấn hành, Nơi XB: NXB.

    K. N. Jayatilleke. (1974). The Message of the Buddha, ed. Ninian Smart, New York: Free Press.

    5. Sách Gồm Có 2 Tác Giả hay 2 Dịch Giả hoặc 2 Biên Tập Viên

    Tên họ 2 dịch giả/biên tập viên. (trans. / eds.) (năm XB) Tên tác phẩm in nghiêng, Nơi XB: NXB.

    A. D. Grazia and F. H. Stevenson. (eds.) (1965). World Politics, New Nork: Barnes and Noble.

    Trần Tam và Trần Tứ. (d.) (1997). Phật Giáo Ngày Nay, Hồ Chí Minh: NXB Tuổi Trẻ.

    6. Sách Gồm nhiều Tác Giả hoặc Nhiều Biên Tập Viên

    Tên họ tác giả., et al. / và tgk. (năm XB) Tên tác phẩm in nghiêng, Nơi XB: NXB.

    L. Jamspal., et al. (1978). Ngrjuna’s Letter to King Gautamputra, Delhi: Motilal Banarsidass.

    Thích-Minh-Châu và tgk. (1964). Đường về Xứ Phật, Sài Gòn: Viện Đại Học Vạn Hạnh.

    b) MỤC TỪ TRONG TỰ ĐIỂN CHUYÊN NGÀNH, THUẬT NGỮ, THÀNH NGỮ VÀ TỰ ĐIỂN ĐỐI CHIẾU SONG NGỮ, TAM NGỮ v.v.

    Tên tự điển viết tắt in nghiêng. (+ số tập nếu có) s.v. tên mục từ in nghiêng :) số trang + a: cột trái của trang; b: cột phải của trang).

    Ví dụ mục từ kusala nằm ở cột phải, trang 233 trong Pali-English Dictionary, có thể được ghi chú bằng hai cách giản tiện hay chi tiết như sau:

    PED. s.v. kusala, hay

    PED. s.v. kusala: 223b (cách này giúp người đọc đối chiếu nhanh hơn khi cần thiết)

    c) BÀI NGHIÊN CỨU TRONG TỰ ĐIỂN BÁCH KHOA / TUYỂN TẬP

    Tên họ tác giả., “Tên bài nghiên cứu,” in Tên người biên tập (ed.) Tên tuyển tập / bách khoa tự điển in nghiêng, (năm XB) Nơi XB: NXB, số tập : số trang. Hay

    Tên họ tác giả., “Tên bài nghiên cứu,” Tên tuyển tập / bách khoa tự điển in nghiêng, ed. Tên người biên tập (năm XB) Nơi XB: NXB, số tập : số trang.

    D. J. Kalupahana., “Dhamma (1),” in G. P. Malalasekera (ed.) Encyclopaedia of Buddhism, (1979). Sri lanka: The Government of Sri lanka, vol. IV: 438-53.

    E. Schlossberger., “The Self in Wittgenstein’s Tratatus,” Wittgenstein and His Compact on Contemporary Thought, ed. E. Leinfellner et al (1978). London: Croomhelm, pp. 11-9.

    d) BÀI NGHIÊN CỨU TRONG TẠP CHÍ HAY BÁO CHÍ

    Tên họ tác giả., “Tên bài nghiên cứu,” Tên tạp chí / báo chí in nghiêng, (Nơi XB), số tập (ngày XB), số trang.

    Thích-Duy-Tân., “Bàn về quyển Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam,” Giác Ngộ, (Hồ Chí Minh), số 34 (11-8-1989), 3-4.

    W. M. Richard., “Wittgenstein, Lion and Other Animals,” University of Dayton Review (Dayton, U.S.A), vol. 9, no. 2 (1970), 144-53.

    Lưu ý: vol. 9, no. 2 (1970), 144-53, trong chú thích vắn tắt, có thể đặt sau tên tác giả và viết như sau (9: 2: 1970): 144-53 hay 9 (1970): 144-53.

    e) BÀI VIẾT KHÔNG CÓ TÊN TÁC GIẢ

    Tên bài viết trong ngoặc, Tên báo / tạp chí / tự điển / bách khoa in nghiêng, số tập (ngày XB), trang.

    ‘Chùa Một Cột’, Tư Tưởng Vạn Hạnh, số 37 (ngày 12-1-1963), 123-65.

    f) PHỤ TRƯƠNG CỦA BÁO / TẠP CHÍ

    Tên họ tác giả. Tên bài viết trong ngoặc, Tên báo / tạp chí, Phụ trương số (ngày XB), trang.

    Trần Anh. ‘Huế’, Nhân Dân, Phụ trương số 23 (1990), 123-44.

    g) LUẬN ÁN CHƯA XUẤT BẢN

    Tên họ tác giả. (năm trình) Tên luận án in nghiêng, bậc luận án. Địa điểm trường: tên trường đại học.

    A. Sait‡. (1984). The Emptiness of Emptiness, Ph. D. Dissertation. Delhi: University of Delhi.

    A. Bhatta. (1990) Buddhism in America, M. A. Dissertation. Washington: University of Washington.

    h) ẤN PHẨM CỦA TỔ CHỨC HAY CHÍNH PHỦ

    Tên tổ chức / chính phủ. (năm XB) Tên văn bản in nghiêng. Nơi XB: Nhà XB.

    United Nations Centre for National Resources. (1980) Petroleum Enterprises in Developing Countries. Elmsford: Pergamon.

    Giáo hội Phật Giáo Việt Nam. (1981). Hiến Chương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam. Hồ Chí Minh: Ban In Aán GHPGVN.

    i) BÀI GIẢNG THUYẾT

    Tên họ người thuyết trình. (ngày tháng năm thuyết trình) “đề tài giảng thuyết,” Lecture / Giảng thuyết in nghiêng. Địa điểm giảng thuyết: tên trường / hội trường.

    Thích-Mãn-Giác. (11-12-1963). “Bồ-tát Thích Quảng Đức,” Giảng Thuyết. Sài Gòn: Trường Đại Học Vạn Hạnh.

    j) BẢN PHÚC TRÌNH

    Tên họ người phúc trình. Tựa đề phúc trình in nghiêng. Nơi phúc trình: ngày phúc trình.

    A. Allen et al. Delhi University Research Scientist Report. Delhi: 3-3-1996.

    k) PHỎNG VẤN
    Tên họ, chức vụ người được phỏng vấn, Interview / Phỏng Vấn in nghiêng. (Nơi phỏng vấn: ngày phỏng vấn).

    Thích Trí Tịnh, Chủ tịch, GHPGVN, Phỏng Vấn. (Thủ Đức: ngày 12-7-1998).

    l) THƯ TỪ
    Tên họ, chức vụ người viết thư, Letter / Thư Từ in nghiêng. (nơi viết: ngày viết).

    Trần-Tiến, Giáo sư Sử học, Trường Đại học Cần Thơ, Thư Từ. (Cần Thơ: 12-2-1956).

    m) PHẦN MỀM VI TÍNH, ĐĨA CD

    Tên họ người viết chương trình. (năm ấn bản) Tên phần mềm in nghiêng, version / số ấn bản. Computer Software / Phần mềm vi tính, Tên nhà xuất bản.

    R. Richard. (1997). Windows 97 Photoshop, version 1.2. Computer Software, Microsoft Company.

    N) WEBSITE

    Tên họ tác giả/ dịch giả. Tên tác phẩm in nghiêng. Địa chỉ truy cập chi tiết của Website chứa tài liệu trích dẫn

    Thích Minh Châu (dịch). Kinh Trường Bộ. http://buddhismtoday.com/viet/kinh/pali/Truongbo0.htm


    VII) PHONG CÁCH TRÌNH BÀY CƯỚC CHÚ / HẬU CHÚ VẮN TẮT
    Đây là cách trình bày cước chú và hậu chú gọn gàng, ít chiếm không gian nhất. Cách trình bày này “phải ứng” với bảng viết tắt tên tác phẩm[2]thư mục tham khảo nhấn mạnh năm.[3]

    Về chi tiết, vì là lối trình bày vắn tắt, chi tiết của nó chỉ gồm:

    a) Đối với tài liệu gốc (Primary Sources / Texts): Tên tác phẩm viết tắt + tập / chương / mục + trang.

    b) Đối với tài liệu nghiên cứu (Secondary Sources / Studies): Họ tác giả + năm XB + chương / mục / đoạn / trang.

    Về phương diện thẩm mỹ, cách trình bày này khá đẹp và không ảnh hưởng đến sự mất cân đối do co chữ của văn bản và cước chú khác nhau, như trong trường hợp của phong cách cước chú chi tiết.

    Vì không chiếm nhiều không gian trong văn bản nên một số tác giả có khuynh hướng “chua thẳng” tài liệu tham khảo ngay sau đoạn trích, nhất là đối với văn bản gốc, mà không cần phải đưa vào mục cước chú hay hậu chú. Thông thường cách làm này chỉ ứng dụng đối với văn bản gốc để giúp độc giả biết liền xuất xứ hay ý tưởng của đoạn được trưng dẫn ngay trước nó.

    1. Đối với Tác Giả chỉ Có một Tác Phẩm trong Thư Mục

    Chi tiết của cước chú chỉ gồm: họ (đối với người Aâu Mỹ) hay tên họ tác giả (đối với người Việt Nam) + năm XB + số trang. Năm xuất bản không cần thiết lắm vì tác giả loại này chỉ có một tác phẩm trong thư mục tham khảo và do đó không thể bị lẫn lộn với các tác phẩm khác xuất bản cùng năm của cùng tác giả.

    Ví dụ: Nếu trong thư mục tham khảo, tác giả A. K. Warder chỉ có tác phẩm duy nhất là Indian Buddhism, với chi tiết như dưới đây:

    Warder, A. K. (1988). Indian Buddhism. Delhi: Motilal Banarsidass.

    thì ta có thể chọn một trong các phong cách cước chú hay hậu chú sau đây.

    Họ, trang. Warder, 145.
    Họ năm: trang. Warder 1988: 145.
    Họ năm, trang. Warder 1988, 145.
    Họ (năm: trang). Warder (1988: 145).
    Họ (năm, trang). Warder (1988, 145).
    Họ (năm) trang. Warder (1988) 145.
    Họ (năm): trang. Warder (1988): 145.
    Họ, mục/ phần Warder, §§ 11. 123.
    2. Đối với Tác Giả Có Ít Nhất hai Tác Phẩm Xuất Bản cùng Năm trong Thư Mục Tham Khảo

    Để tránh sự lẫn lộn về các tác phẩm xuất bản cùng năm của cùng một tác giả được nêu trong thư mục tham khảo, bạn nên thêm ký hiệu a, b, c, d…ngay sau năm XB của các tác phẩm đó hay bạn cũng có thể thêm các chữ viết tắt của tác phẩm ngay sau họ tác giả, để phân biệt chúng.

    Chi tiết của cách cước chú này, do đó, chỉ gồm: họ tác giả + năm a/b hay tên tác phẩm viết tắt + trang.

    Nếu trong thư mục tham khảo, bạn có 2 tác phẩm xuất bản cùng năm của cùng một tác giả như:

    Wittgenstein, L., (1954). Philosophical Atomism. London: Basil Backwell.

    Wittgenstein, L., (1954). Philosophical Investigations. London: Basil Backwell.

    thì bạn có thể chọn 1 trong 2 cách trình bày sau đây:

    a) Họ (năm a/b): trang.

    Wittgenstein (1954a): 13-5. (1945a được hiểu là Philosophical Atomism)

    Wittgenstein (1954b): 11-2. (1945b được hiểu là Philosophical Investigations), hay

    b) Họ: Tác phẩm viết tắt. trang.

    Wittgenstein: PI. 11-2. (PI viết tắt của Philosophical Investigations)

    Wittgenstein: PA. 123-5. (PA viết tắt của Philosophical Atomism)

    3. Nói Thêm về Chú Thích ngay sau Đoạn Trích Dẫn

    Chú thích ngay sau đoạn trích dẫn là loại chú thích “đặt xuất xứ của nguồn tài liệu trong ngoặc đơn, ngay sau đoạn được trích dẫn hay minh họa.” Đây là cách chú thích vắn tắt tương ứng với bảng viết tắt tác phẩm và thư mục tham khảo nhấn mạnh năm xuất bản.

    Có 2 loại chú thích ngay sau đoạn trích dẫn: loại chú thích nhấn mạnh họ tác giả và loại chú thích nhấn mạnh tên tác phẩm. Loại thứ nhất có thể áp dụng cho tài liệu gốc và tài liệu tham khảo trong khi loại thứ hai chỉ có thể áp dụng cho tài liệu gốc hoặc các tài liệu đã được đưa ra trong bảng viết tắt các tác phẩm tham khảo mà thôi.

    a) Cách Trình Bày Tác Phẩm Nhấn Mạnh Tên Tác Giả (Họ tác giả năm XB: trang, cước chú nếu có)

    Vd: (Wayman 1974:176, n.34) được hiểu là cước chú thứ 34 ở trang 176 của tác phẩm The Lion’s Roar of Queen Ưrml của tác giả Alex Wayman, do Columbia University Press ấn hành tại New York năm 1974, tương ứng với phong cách trình bày thư mục tham khảo sau đây:

    Wayman, Alex (1974). The Lion’s Roar of Queen Ưrml. New York, Columbia University Press.

    b) Cách Trình Bày Nhấn Mạnh Tên Tác Phẩm Thuộc Tài Liệu Gốc

    Trong cách trình bày này, tên tác phẩm thuộc tài liệu gốc thông thường được viết tắt theo 2 cách: viết tắt bằng từ đầu tiên của tên tác phẩm hay bằng các chữ cái đầu của các từ của tên tác phẩm. Cách trình bày này phải tương ứng với cách trình bày thư mục tham khảo vắn tắt và bảng viết tắt các tác phẩm.

    (Tên tác phẩm viết tắt bằng từ đầu + tập /chương/ phần : trang)

    Vd: — (Taish‡ 3. 654a) được hiểu là Đại Chánh (Taish‡ là Đại Chánh) Tân Tu Đại Tạng Kinh, tập 3, trang 654, phần thượng.

    — (Thg., v. 489) hay (Thg. 489) được hiểu là Trưởng Lão Tăng Kệ (Theragth), kệ 489, ấn bản của Hội Thánh Điển Pali (Pali Text Society Edition).

    (Tên tác phẩm viết tắt các thành tố + tập, trang)

    Vd: — (D. N. I, 45) hay (D. I. 45) được hiểu là Trường Bộ Kinh (Dgha Nikya), tập I, trang 45, ấn bản của Hội Thánh Điển Pli (Pli Text Society Edition).

    — (M. N. III, 43) hay (M. III. 43) được hiểu là Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikya), tập III, trang 43, ấn bản của Hội Thánh Điển Pli (Pli Text Society Edition).



    VIII. CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT THƯỜNG ĐƯỢC SỬ DỤNG TRONG CƯỚC CHÚ VÀ HẬU CHÚ

    Sau đây là một số từ viết tắt[4] thường được sử dụng trong cước chú và hậu chú trong các tác phẩm Anh-Pháp. Các từ viết tắt này, ngoài một số là tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Việt và Pli, phần lớn là tiếng La-tin, đã được quốc tế hóa như các ký hiệu viết tắt trong khi chú thích. Các từ chua trong ngoặc đơn phần lớn là từ gốc của các từ viết tắt và thỉnh thoảng là phần chú thích thêm.

    a (đặt sau số trang): phần đầu (thượng) trong một trang Đại Tạng Kinh Trung Quốc, k cột đầu/trái của một trang tự điển nơi có mục từ xuất hiện.

    a (đặt sau năm xuất bản) ký hiệu phân biệt các tác phẩm xuất bản cùng năm của một tác giả.

    ab.: ấn bản.

    abbr. (abbreviation, abbreviated): viết tắt, được viết tắt là.

    ad inf. (ad infinitum): đến tận cùng, vô tận.

    A. D. (Anno Domini): sau công nguyên; theo niên lịch của chúa Jesu (thường đặt trước số năm)

    ad val. (ad valorem): tùy giá trị.

    anon. (anonymous): vô danh; không có tên tác giả.

    ante bellum: trước chiến tranh, tiền chiến.

    Art. (Article): đk; điều khoản.

    b (đặt sau số trang): phần giữa (trung) trong một trang Đại Tạng Kinh Trung Quốc, k cột thứ hai của một trang tự điển nơi có mục từ xuất hiện.

    b (đặt sau năm xuất bản) như a (đặt sau năm xuất bản).

    B. C. (Before Christ): trước công nguyên/ kỷ nguyên của chúa Jesu (thường đặt sau số năm).

    Bk. (Book): sách; tập.

    BHS (Buddhist Hybrid Sanskrit): Sanskrit (lai tạo)Phật giáo.

    bt: biên tập; biên tập viên.

    bull. (bulletin): bản tin.

    © (copy right): bản quyền.

    c. (circa): khoảng (dùng cho năm tháng).

    c (đặt sau số trang): phần cuối (hạ) trong một trang Đại Tạng Kinh Trung Quốc, k cột thứ 3 của một trang từ điển nơi có mục từ xuất hiện..

    c (đặt sau năm xuất bản) như a (đặt sau năm xuất bản)

    C (Chinese): tiếng, chữ Hán.

    ca. (circa): khoảng (dùng cho năm tháng).

    carte blanche: trọn quyền.

    cf. (confer): so sánh với, đối chiếu với, tương phản với, k tham khảo, xem thêm.

    cf. e.g. : hãy đối chiếu chẳng hạn như.

    ch. (chapter); chương.

    chap. (chapter): chương.

    chaps. (chapters): các chương, nhiều chương.

    Chin. (Chinese): tiếng, chữ Hán.

    chs. (chapters): các chương, nhiều chương.

    col. (column): cột đề mục; mục.

    cols. (columns): các cột đề mục; các mục.

    confer: như cf.

    C/o (care of): nhờ/kính chuyển.

    cp. (compare): so sánh, đối chiếu, k tương phản, l xem thêm, tham khảo.

    Ctsđd: Cùng trang sách đã dẫn.

    do: nt; như trên (thay thế tên tác giả của tác phẩm thứ hai trở đi của cùng tác giả).

    đk: điều khoản.

    e. g. (exempli gratia): ví/thí dụ, ví/thí như, chẳng hạn như.

    ed. (editor, edited by, edition): bt; người biên tập,

    do….biên tập, ấn bản.

    edit. (edited by): do…ấn hành.

    edn. (edition): ab; ấn bản, xuất bản.

    eds. (editors): các biên tập viên, đồng biên tập.

    emphasis added: phần nhấn mạnh của tác/dịch giả.

    emphasis in original: phần nhấn mạnh thuộc nguyên tác.

    enl. (enlarged): j mở rộng, k thêm thắt.

    esp. (especially): đặc biệt là, nhất là.

    espec. (especially): đặc biệt là, nhất là.

    e.t. (en titre): với nhan đề.

    et al (et alii): tgk; và các tác giả hay dịch giả khác (nếu có 3 đồng tác giả hay dịch giả trở lên)

    et alibi: và ở một chỗ / trang / đoạn nào đó.

    et seq (et sequens): và trang kế, k và người sau đây.

    etc. (et cetera): vân vân, v.v…

    e.t.c. (en tout cas): trong mọi trường hợp; dù thế nào đi nữa.

    et sqq : và những trang tiếp theo, k những người sau đây.

    ex officio: vì bận việc.

    exx. (examples): các ví dụ, k các mẫu.

    f. (following): và trang kế hay trang tiếp theo sau.

    ff. (followings): và các trang tiếp theo (cho đến hết phần được thảo luận hay hết mục/chương có đoạn trích này).

    facs. (facsimile): bản sao của nguyên tác.

    facsim như facs.

    fasc. (fasciculi hay fasciculus): tập.

    fig. (figure): hình.

    figs. (figures): các hình.

    fl. (floruit): đạt đến ảnh hưởng hay phát triển cao nhất.

    fn. (footnote): cước chú.

    fol. (folio): giấy xếp khổ đôi/khổ bốn, k tờ.

    forthcoming: đón đọc, k sẽ xuất bản.

    Front. (frontispiece): trang đầu sách.

    f. v. (folio verso): ở mặt sau của tờ giấy.

    hereafter: từ đây về sau (viết là).

    hereafter cited as: từ đây về sau được trích/viết như.

    hereafter referred to as: từ đây về sau viết tắt là.

    hist. (history): sử, lịch sử.

    ibid., (ibidem): Sđd, sách đã dẫn, tác phẩm đã dẫn.

    ibid. loc. cit. : ctsđd; cùng trang sách đã dẫn (nêu ở chú thích trước đó).

    ida (idaho): không chính thức.

    idem: cùng tác phẩm, k cùng tác giả.

    i. e. (id est): có nghĩa là, nghĩa là, tức là.

    infra (below): văn bản dưới đây.

    in frint: đang in.

    italics added: phần in nghiêng được thêm vào.

    italics in original: phần in nghiêng thuộc nguyên tác.

    introd. (introduction): lời giới thiệu; phần dẫn nhập.

    J (Japanese): tiếng, chữ Nhật.

    Jan (Japanese): tiếng, chữ Nhật.

    JPTS (Journal of Pli Text Society): Tạp chí Hội Thánh Điển Pli.

    knxb.: không năm xuất bản.

    knhxb.: không ghi nhà xuất bản.

    kxb.: không ghi nơi xuất bản.

    l. (line): dòng, hàng.

    ll. (lines): các dòng, các hàng.

    line : dòng, hàng.

    lines: các dòng, các hàng.

    Lit. (literature): văn học.

    loc. cit. (loco citato): Ctsđd, cùng trang sách đã dẫn.

    MS. (manuscript): bản thảo.

    MSS. (manuscripts): các bản thảo.

    n. (note): chú thích.

    N.B. (nota bene): bị chú.

    nn. (notes): các chú thích, k các cước chú.

    No. (number): số.

    Nos. (numbers): các số, những số.

    n. d. (no date of publication given): kngxb; không có ghi ngày xuất bản

    n. p. (no place of publication given): knxb; không có ghi nơi XB

    n. pag. (no pagination): không có đánh số trang.

    Ns. (New Series hay New Style): Tùng thư mới, k phong cách mới.

    NS. : như Ns.

    nt.: như trên.

    op. cit (opere citato): Sđd, sách đã dẫn, tác phẩm đã dẫn.

    Op. cit. loc. cit. : Ctsđd, cùng trang sách đã dẫn

    (ở chú thích trước đó).

    P (Pli): tiếng, chữ Pli.

    p. (page): trang.

    Pal. (Pli): tiếng, chữ Pli.

    par (paragrahp): đoạn.

    para (paragrahp): đoạn.

    pars (paragrahps): các đoạn.

    paras (paragrahps): các đoạn.

    pass (passim): (ý kiến khác nhau về số trang): j ở trang nào đó, k ở các trang khác nhau.

    passim: như pass.

    P. ed. (Peiking edition): Aán bản Bắc Kinh.

    per annum: mỗi năm, hằng năm.

    per capita: trên đầu người, mỗi đầu người.

    per se: chính nó, cho chính nó.

    Pkt. (Pakrit): tiếng, chữ Pakrit.

    pl. (plate): hình minh họa.

    Pls. (plates): các hình, tranh minh họa.

    pp. (pages): các trang.

    pro rata: theo tỷ lệ.

    Pt. (part): phần.

    PTS (Pli Text Society): Hội Thánh Điển Pli.

    Pts. (parts): các phần.

    pub. (published or publications): ấn bản, k được . . . xuất bản.

    pubs. : số nhiều của pub.

    qu (quasi): có thể cho là như vậy.

    quot. (quotation; quote): sự trích dẫn, lời trích dẫn,

    đoạn trích dẫn.

    quoted by: do (tên tác giả) trích dẫn.

    quoted from: trích lại từ (tên tác phẩm).

    quoted in: trích lại trong (tên tác phẩm).

    q. v. (quod vide): hãy xem.

    rev. (revised or reviewed): đã hiệu đính, k đã được điểm sách.

    rpt. (reprint): tái bản.

    S (Sanskrit): tiếng, chữ Sanskrit.

    Sd/- (said or signed): đã nói; đã ký tên

    Sđd.: sách đã dẫn, tác phẩm đã dẫn.

    sec. (section): mục, phần.

    secs.(sections): các phần, các mục.

    see above: xem . . . ở trên.

    see below: xem . . . dưới đây.

    see e.g. : xem chẳng hạn như.

    Sk. (Sanskrit): tiếng, chữ Sanskrit.

    Skt. (Sanskrit): tiếng, chữ Sanskrit.

    [sic] : tiếng chỉ sự sai lầm về đánh vần, văn phạm, thông tin v.v.. (thường được đặt ngay sau từ/cụm từ/câu có vấn đề).

    s. p. (sine prole): không phát hành.

    sq. (et sequentia or sequens): và như sau đây, k tiếp theo.

    s. v. (sub voce): dưới mục từ, k dưới tiêu đề.

    sp. (small paper or special position):khổ nhỏ hay chỗ đặc biệt.

    st. (stanza): kệ, thi kệ.

    sts. : số nhiều của st.

    St. (Saint): thánh.

    status quo: hiện trạng.

    supra: như trên (tức tác phẩm đã trích dẫn).

    T (Taish‡ Shinsh‰ Daiz‡ky‡): Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh.

    T (Tibetan): tiếng, chữ Tây Tạng.

    Taish‡ (Taish‡ Shinsh‰ Daiz‡ky‡): Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh. Taish‡ Ed. : Ấn bản Đại Chánh Tân Tu Đại Tạng Kinh.

    tgk.: và các j tác giả, k dịch giả khác, l biên tập viên (nếu có 3 người trở lên)

    Tib. (Tibetan): tiếng, chữ Tây Tạng.

    tr. (translation, translated by, translator): j bản dịch của, k do … dịch, j dịch giả.

    trans., (translation, translated by, translator): j d. hay dịch, k bản dịch của, l do .. . dịch, m dịch giả.

    TS. (typescript): bản đánh máy.

    u. s. (uti supra): như ở trên.

    v. (vagga): phẩm, chương.

    v. (vel): hay là.

    v. (verse): kệ, câu kệ, k bài thơ.

    v. (version): bản, ấn bản.

    v. (versus): chống lại, k đối lại với.

    v. (vide): hãy xem, tham khảo.

    v. i. (vide infra): xem dưới đây.

    v. ibid. (vide ibidem): hãy xem sách đã dẫn.

    v. ibid. pp. (vide ibidem the following pages): xem các trang … của sách đã dẫn.

    v. infra. (vide below): hãy xem phần dưới đây.

    v. infra, n. (vide below note): xem chú thích / cước chú dưới đây.

    v. infra, pp.: xem/tham khảo các trang dưới đây.

    v. s. (vide supra): xem phần trước hay phần ở trên.

    vd.: ví dụ, k vô danh, không tên tác giả.

    via: qua, thông / xuyên qua, k ghé.

    vice versa: và ngược lại.

    vid hay vide: hãy xem, tham khảo.

    vide below: xem / tham khảo phần sau đây.

    vide below n.: xem / tham khảo chú thích sau đây.

    vide supra: xem phần trước hay phần ở trên.

    vide supra, n.: xem chú thích trước hay ở trên.

    vide supra, pp.: xem các trang trước hay ở trên.

    vis-à-vis: đối với, k đối diện.

    viz. (videlicet): được gọi là, k mệnh danh là.

    vol. (volume): tập, quyển.

    vols. (volumes): các tập, các quyển.

    vs. : chống / đấu với, k ngược / trái với.

    vss: số nhiều của vs.

    vv. (verses): các kệ/câu kệ, k các bài thơ.

    vv. (versions): các bản, các ấn bản.

    IX. CÁCH DÙNG VÀI KÝ HIỆU VIẾT TẮT
    THÔNG DỤNG TRONG CƯỚC CHÚ VÀ HẬU CHÚ

    Để tránh mô tả hay ghi chú trùng lập các chi tiết không cần thiết cho phần cước chú hay hậu chú, người nghiên cứu nên sử dụng một số ký hiệu chú thích đặc biệt như Ibid. (sách đã dẫn), Op. cit. (sách đã dẫn), Loc. cit. (cùng trang sách đã dẫn) và idem hay do (cùng tác giả) trong tác phẩm của mình. Vì là đại từ cho tên tác phẩm, các ký hiệu chú thích Ibid., Op. cit.Loc. cit. này phải được in nghiêng và viết hoa như tên tác phẩm mà chúng đã thay thế.

    1. Ibid.: viết tắt từ chữ La-tin ibidem, có nghĩa là “cùng sách hay tác phẩm đã dẫn.” Ký hiệu này được sử dụng để chú thích cho sự xuất hiện liên tục từ lần thứ hai trở đi của một tác phẩm được trích dẫn. Nghĩa là nếu các đoạn văn trong cùng một tác phẩm được trích dẫn liên tiếp trong phần chú thích từ 1 cho đến 2, 3, 4… thì ngay lần cước chú hay chú thích thứ hai, ta chỉ cần ghi ký hiệu “Ibid” cho xuất xứ cùng trang sách đã dẫn, và ở lần cước chú hay chú thích thứ ba trở đi, ta chỉ ghi Ibid + số trang cụ thể, mà không cần lập lại tên tác giả hay tên tác phẩm như lần xuất hiện thứ 1. Ví dụ:

    1Thích Thiện Hoa, Duy Thức Học. (Hồ Chí Minh: Thành Hội Phật Giáo TP. Hồ Chí Minh, 1992), tr. 99.

    2 Ibid.

    3 Ibid., tr. 44.

    Cước chú hay chú thích thứ 2 cho độc giả biết tác giả đã trích dẫn tiếp một đoạn cùng trang 99 trong tác phẩm nêu ở cước chú 1. Cước chú hay chú thích thứ 3 cho độc giả biết tác giả trích thêm một đoạn khác ở trang 44 của sách đã dẫn ở chú thích 1.

    2. Op. Cit. : viết tắt của chữ Latin opere citato, có nghĩa là “cùng tác phẩm đã nêu trên hay cùng sách đã dẫn.” Về ý nghĩa, op. cit. vaø ibid. đều có nghĩa là “sách đã dẫn.” Về chức năng, op. cit. được sử dụng để chỉ cho tác phẩm đã dẫn chứng ở các chú thích trước đó, và giữa lần xuất hiện đầu tiên của tác phẩm đó và lần xuất hiện hiện hành của nó có sự xen vào của các chú thích khác thuộc các tác phẩm khác. Do vì có sự gián cách giữa lần xuất hiện đầu và các lần xuất hiện sau, họ (đối với tác giả Âu Mỹ), hay họ tên (đối với tác giả Việt Nam) tác giả phải được đặt trước op. cit., để tránh sự lẫn lộn giữa tác giả này với các tác giả khác có tác phẩm được trích dẫn. Ví dụ:

    1 Narada Thera, Đức Phật và Phật Pháp. (dịch) Phạm Kim Khánh. (Hồ Chí Minh: Thành Hội Phật Giáo TP. HCM, 1991).

    2 Thích Mãn Giác, Lịch Sử Triết Học Ấn Độ. (Sài Gòn: Tu Thư Đại Học Vạn Hạnh, 1967), tr. 155.

    3 Narada, Op. Cit., tr. 255.

    4 Thích Mãn Giác, Op. Cit., tr. 173-9.

    Op. Cit. (như sách đã dẫn ở trên) trong chú thích 3 ám chỉ cho tác phẩm Đức Phật và Phật Pháp đã nêu ở chú thích 1. Op. Cit. trong chú thích 4 được hiểu là quyển Lịch Sử Triết Học Ấn Độ đã nêu ở chú thích 2.

    3. Loc. Cit. : viết tắt của chữ Latin loco citato, có nghĩa là “cùng chỗ vừa trích dẫn ở trên” và trên thực tế còn được sử dụng với nghĩa “cùng trang sách đã dẫn.” Một số tác giả có khuynh hướng ghi đủ ibid., loc. cit. thay vì chỉ cần loc. cit., nhưng điều này không cần thiết. Trong chú thích, “loc. cit.” được dùng để ám chỉ rằng nguồn trích dẫn thứ 2 này cũng được trích cùng một trang sách đã dẫn so với chú thích thứ 1 ngay trước nó. Ví dụ:

    1 Thích Thanh Kiểm, Lược Sử Phật Giáo Ấn Độ. (Hồ Chí Minh: Thành Hội Phật Giáo TP. Hồ Chí Minh, 1989), tr. 133.

    2 Loc. Cit.

    Loc. Cit. trong chú thích 2 được hiểu là “chú thích này cũng được trích cùng trang 133 của tác phẩm đã nêu trong chú thích 1 ở trên.

    4. Idem hay do hay ____ : Idem hay do đều có nghĩa là “như trên” hay “cùng tác giả.” Thường Idem hay do được đặt trước tên tác phẩm thứ hai trở đi của cùng một tác giả được nêu ngay trước đó, để khỏi phải ghi đi ghi lại nhiều lần tên của một tác giả có nhiều tác phẩm được trích dẫn trong cước chú hay thư mục tham khảo. Hiện nay, các nhà nghiên cứu có khuynh hướng thay thế chúng bằng một gạch ngang dài với một dấu chấm hay dấu phẩy. Ví dụ:

    1Thích Thiện Hoa, Duy Thức Học. (Hồ Chí Minh: Thành Hội Phật Giáo TP. Hồ Chí Minh, 1992), tr. 99.

    2 idem / do, Phật Học Phổ Thông. (Sài Gòn: Hương Đạo, 1960).

    3 _______, Phật Học Phổ Thông. (Sài Gòn: Hương Đạo, 1960).

    [1] Tổng hợp từ T. R. Ramachandra., op. cit., pp. 48-52; S. K. Dass., op. cit., pp. 75-84; J. Anderson et al., op. cit., pp. 61-71; Judith Butcher., op. cit., pp. 226-261; B. S. Manhas., Guidelines for Preparation of Ph. D./M.Phil. Thesis/Dissertation. (Patiala: Punjabi University, 1995), pp. 10-21.

    [2] Xem chi tiết phần này ở chương ‘Bảng Viết Tắt.’

    [3] Xem chi tiết phần này ở chương ‘Thư Mục Tham Khảo.’

    [4] Một số chữ nguyên thể thường được sử dụng trong cước chú và hậu chú cũng được liệt vào bảng viết tắt này.
     
  7. admin

    admin Administrator Staff Member

    Tham gia :
    16/04/2018
    Bài viết:
    14.278
    Lượt thích:
    189
    Điểm thành tích:
    125.887
    ...... ... .. . .. . .
    CẨM NANG VIẾT
    KHẢO LUẬN, LUẬN VĂN VÀ LUẬN ÁN

    Thích Nhật Từ
    CHƯƠNG VII
    PHƯƠNG PHÁP TRÍCH DẪN
    (THE USE OF QUOTATIONS)


    I. DẪN NHẬP
    Trong suốt quá trình nghiên cứu, nhất là trong lúc ghi chép tài liệu, nghiên cứu sinh thường chép các đoạn trích dẫn trong văn bản gốc với dụng ý rằng các ghi chép này sẽ giúp cho việc viết bản thảo tốt hơn. Mặc dù có nhiều loại khác nhau nhưng trên căn bản các sáng tác có thể phân thành hai loại chính, đó là tác phẩm nghiên cứu học đườngtác phẩm thuộc dạng tư tưởng. Đối với dạng nghiên cứu học đường (chẳng hạn như luận văn, luận án hay sách nghiên cứu) một tác phẩm được xem là tiêu chuẩn là tác phẩm chứa đựng nhiều thông tin mới, với nhiều chú thích, minh hoạ, phụ chú, bảng sách dẫn mục từ chi tiết và nhiều sách tham khảo. Đối với sách tư tưởng, một tác phẩm hay không nhất thiết là tác phẩm có nhiều trích dẫn mà là tác phẩm có nhiều đóng góp về phương diện tư tưởng, cách nhìn vấn đề một cách mới mẻ, nhất là có nhiều giá trị tư duy và ứng dựng. Trích dẫn quá nhiều trong tác phẩm thuộc dạng này sẽ làm cho người đọc có cảm giác rằng tác phẩm này chỉ là tập hợp những điều do người khác nói mà thôi. Do đó, tuỳ theo loại hình, bản chất nghiên cứu và đối tượng độc giả mà nhà nghiên cứu nên trích dẫn nhiều hay ít để minh họa một vấn đề nào đó trong bài khảo luận, luận văn, luận án hay sách tư tưởng của mình. Dù là sách nghiên cứu học đường hay sách tư tưởng, nhà nghiên cứu nên phát triển càng nhiều càng tốt các luận điểm, phương pháp tiếp cận, các góc độ và sáng tạo của riêng mình, để gây sự chú ý ở người đọc và tạo tính thuyết phục của văn bản. Và lúc ấy, các trích dẫn, nếu có, chỉ là công cụ làm sáng tỏ hay tăng sức mạnh của những luận điểm mà thôi.

    II. PHÂN LOẠI TRÍCH DẪN

    Có hai loại trích dẫn chính, đó là, trích dẫn trực tiếp và trích dẫn gián tiếp. Ngoài ra, còn có các trích dẫn đặc biệt như trích dẫn trong đoạn trích dẫn và trích dẫn thơ ca.[1]

    1. Trích Dẫn Trực Tiếp

    Là cách trích dẫn một đoạn nguyên tác của tài liệu tham khảo vào trong văn bản nghiên cứu, không có sửa chữa, thêm thắt hay tỉnh lược nào cả. Cách trích dẫn này mang tính thẩm quyền cao nhưng không nên lạm dụng và chỉ trích dẫn khi nào thật cần thiết.

    2. Trích Dẫn Gián Tiếp: Gồm có hai loại.[2]

    a) Trích lại một đoạn trích dẫn trong một tác phẩm nào đó.

    b) Trích dẫn ý tứ hay tư tưởng của tài liệu tham khảo bằng ngôn ngữ và văn phong của người cầm bút.

    Trong trường hợp này, nhà nghiên cứu nên thận trọng về tính thẩm quyền của đoạn trích dẫn. Thái độ tin mù quáng vào uy danh của các tác giả nổi tiếng mà không kiểm tra lại xuất xứ của nó trước khi sử dụng sẽ có thể dẫn đến tình trạng một trích dẫn không có cơ sở hay bịa đặt, điều cấm kỵ trong nghiên cứu và làm giảm uy tín của nhà nghiên cứu.

    Trong trường hợp thứ hai, cách trích dẫn gián tiếp thực ra chỉ là sự diễn đạt, trình bày lại hay phát triển ý tưởng của đoạn nguyên tác theo văn phong của người viết, song song với việc cung cấp cho người đọc biết nguồn gốc của đoạn văn diễn giải đó. Đây là cách viết được ưa chuộng của đại đa số các học giả tầm vóc.

    III. CÁC TRƯỜNG HỢP TRÍCH DẪN TRỰC TIẾP

    1. Các trích dẫn trực tiếp chỉ nên được sử dụng khi từ ngữ nguyên gốc của tài liệu tham khảo quá hàm súc và cô đọng nhiều ý tưởng và nhà nghiên cứu không thể viết hay hơn những lời lẽ đó. Trong trường này, lời lẽ của đoạn trích dẫn sẽ làm tăng thêm sức mạnh cho văn bản của bài khảo luận hay luận án.

    2. Các trích dẫn trực tiếp chỉ nên được sử dụng cho tài liệu của các luận điểm chính, đặc biệt khi cước chú vẫn chưa đủ sức thuyết phục người đọc. Trong trường hợp này, đoạn trích dẫn nên được hạn chế về chiều dài và chỉ bao gồm những gì thật sự cần thiết và đi vào trọng tâm vấn đề mà thôi.

    3. Các trích dẫn trực tiếp được sử dụng khi nhà nghiên cứu muốn phê bình, đánh giá, nhận định, phân tích các ý tưởûng của các tác giả khác.

    4. Các trích dẫn trực tiếp được sử dụng cho các công thức toán học, khoa học, các văn bản luật.

    5. Nói chung, đối với đoạïn văn nào mà sự thay đổi hay biến dạng sẽ dẫn tới hiểu sai hoặc giải thích sai vấn đề thì nhà nghiên cứu nên sử dụng trích dẫn trực tiếp.

    IV. CÁC TIÊU CHÍ CHUNG VỀ TRÍCH DẪN TRỰC TIẾP

    Mặc dù quyết định về trích dẫn tùy thuộc vào vấn đề được nghiên cứu và phán quyết của nhà nghiên cứu, có một số tiêu chí mà nhà nghiên cứu cần phải tuân thủ để có được các trích dẫn có giá trị cho văn bản nghiên cứu của mình.

    1.Áp dụng cho lời lẽ chính xác của một tác giả hay nguyên văn của một ấn bản chính phủ. ‘Lời lẽ chính xác’ có nghĩa là sử dụng cùng từ ngữ, cùng cách chấm câu, cùng cách viết chánh tả, cùng phép viết hoa, viết nghiêng…Nghĩa là trích lại nguyên xi, không có thêm thắt, làm biến dạng hay sửa chữa văn bản gốc.

    2. Áp dụng cho các đoạn nguyên tác dù có những sai suất về chính tả, văn phạm hay cách dùng từ. Trong trường hợp này, bạn không được tự ý sửa chữa mà không cho tác giả và độc giả biết. Có hai cách lưu ý cho tác giả và độc giả biết về các sai suất đó là:

    — Thêm chữ sic trong ngoặc vuông [sic] ngay sau từ sai chính tả / từ viết sai, hay ngay sau thuật ngữ có vấn đề hoặc ngay sau câu sai văn phạm.

    — Thêm phần hiệu đính hay phần thêm vào (interpolation) trong ngoặc vuông ngay sau từ, cụm từ hay câu có vấn đề hay cần làm rõ nghĩa thêm.

    Ví dụ

    ĐHọ của Đức Phật là Siddhattha(Skt., Siddhrtha) [sic]. Tên của Ngài là Gotama [sic].

    ĐHọ của Đức Phật là Siddhrtha [Gotama]. Tên của Ngài là Gotama [Siddhattha /Siddhrtha].

    3. Đối với một đoạn nguyên tác quá dài, nhà nghiên cứu có thể trích dẫn các câu quan trọng, cần thiết và tỉnh lược các câu không thích ứng còn lại. Phần bị tỉnh lược phải được ký hiệu bằng ba dấu chấm ngay nơi chúng bị lược đi, và giữa các dấu chấm này cũng như trước và sau chúng phải có một khoảng cách.

    Ví dụ: “Giới hạn của ngôn ngữ là giới hạn của thế giới chúng ta . . . Ngôn ngữ là hình thái của cuộc sống.” (Wittgenstein, Philosophical Investigations, p. 134).

    V. CÁCH TRÌNH BÀY TRÍCH DẪN NGẮN VÀ DÀI

    1. Về Trích Dẫn Ngắn

    a) Định nghĩa: Trích dẫn ngắn là đoạn trích dẫn trực tiếp có chiều dài trong vòng bốn hàng.

    b) Cách trình bày

    — Chèn đoạn trích dẫn ngắn vào trong mạch văn mà không phải xuống hàng ngay trước và sau đoạn trích này.

    — Đoạn trích dẫn ngắn phải được đặt trong dấu ngoặc kép.

    — Không có gì thay đổi về cách trình bày khoảng cách hàng trong mạch văn bản.

    c) Ví dụ

    Bằng ngôn ngữ của Phật giáo, các Phật tử đã tôn xưng Đức Phật như vị thầy của loài người và các thần linh (bao gồm cả Thượng đế). Bằng ngôn ngữ triết học, các nhà tư tưởng đã tôn xưng Ngài như vị triết gia lỗi lạc nhất trong lịch sử tư tưởng. Theo Nitch, “Đức Phậït không phải là thần linh nhưng hơn cả thần linh; Đức Phật chỉ là con người nhưng hơn hẳn mọi người.”

    Đoạn trích dẫn ngắn “Đức Phậït không phải là thần linh nhưng hơn cả thần linh; Đức Phật chỉ là con người nhưng hơn hẳn mọi người” có thể được trình bày theo hai cách như sau:

    — “Đức Phậït không phải là thần linh nhưng hơn cả thần linh; Đức Phật chỉ là con người nhưng hơn hẳn mọi người.”1 (nguồn trích dẫn này sẽ được ghi chú ở cước chú số 1, 2, 3); hay

    — “Đức Phậït không phải là thần linh nhưng hơn cả thần linh; Đức Phật chỉ là con người nhưng hơn hẳn mọi người.” (Nitch, 1997: 13).

    2. Về Trích Dẫn Dài

    a) Định nghĩa: Trích dẫn dài là đoạn trích dẫn trực tiếp có chiều dài từ năm hàng trở lên.

    b) Cách trình bày

    — Đặt dấu hai chấm ngay sau chữ cuối cùng của hàng đứng trước đoạn trích dẫn dài.

    — Không sử dụng dấu ngoặc kép trước và sau đoạn trích dẫn dài.

    — Thụt vào đầu dòng toàn bộ đoạn trích dẫn dài cùng một khoảng cách vào đầu dòng của văn bản đó.

    — Đánh số cước chú ở cuối đoạn trích dẫn dài và ghi chú xuất xứ của nó ở cuối trang giấy hay cuối chương hay cuối sách, tùy theo phong cách cước chú hay hậu chú.

    — Áp dụng loại trình bày hàng đơn (single-line spacing) cho đoạn trích dẫn dài này.

    c) Ví dụ

    Khái niệm “niết-bàn” trong đạo Phật không bao giờ là thái độ bàng quan đối với thế giới bên ngoài như Giáo Hoàng John Paul II đã bóp méo. Niết-bàn là trạng thái tâm thức đã hoàn toàn lắng đọng các tâm lý âm tính như tham, sân, si; là trạng thái của sự toàn thiện ở con người, ở đây và trong hiện tại. Chính vì thế, Ken Tanaka, một giáo sư của Viện Phật Học ở Berkeley phát biểu rằng:

    Rõ ràng là Giáo Hoàng đã không chịu làm bài tập trước ở nhà và đã trình bày một quan điểm quá đơn giản về Phật giáo. Cốt tủy của đạo Phật là thoát khỏi sự ràng buộc vào tham, sân, si chứ không phải là thoát khỏi thế giới. Tham, sân, si trói buộc con người ngay thế giới này thì chính con người, chứ không phải thượng đế, phải nỗ lực để tháo gỡ tất cả trói buộc đó. Nhờ đó, con người được giác ngộ và giải thoát.2

    3. Về Cách Ghi Ký Hiệu hay Nhận Dạng Đoạn Trích Dẫn

    a) Cách ghi ký hiệu trích dẫn đối với tác giả

    — Đối với đoạn trích dẫn ngắn: tác giả phải ghi ký hiệu của đoạn trích dẫn bằng cách đặt đoạn trích dẫn trong ngoặc kép và đánh số cước chú hay hậu chú cho nó ngay sau dấu ngoặc kép hay chua thẳng xuất xứ theo phong cách trình bày cước chú vắn tắt.

    — Đối với đoạn trích dẫn dài: tác giả phải đánh dấu hai chấm ngay sau chữ cuối trước đoạn trích dẫn và trình bày tụt vào đầu dòng toàn bộ đoạn trích dẫn, và ghi số cước chú ngay sau dấu chấm câu của đoạn trích dẫn đó.

    b) Cách nhận dạng đoạn trích dẫn đối với độc giả

    — Đối với đoạn trích dẫn ngắn: người đọc có thể nhận dạng đoạn trích dẫn bằng các ký hiệu của dấu ngoặc kép trước và sau một đoạn nào đó, và sau dấu ngoặc kép đó là số cước chú hay hậu chú hoặc là dấu ngoặc đơn ( ) có chua xuất xứ tài liệu tham khảo theo phong cách vắn tắt.

    — Đối với đoạn trích dẫn dài: người đọc có thể nhận dạng đoạn trích dẫn dài bằng cách tìm những đoạn gồm từ năm hàng trở lên được trình bày tụt vào đầu dòng toàn bộ và sau nó là số cước chú hay hậu chú.

    VI. CÁCH TỈNH LƯỢC ĐOẠN TRÍCH DẪN

    1. Dẫn Nhập

    Để tránh trích dẫn các đoạn quá dài nhưng lại không thích ứng cho mục đích minh họa, phê bình, đánh giá, nhận xét của người cầm bút, người viết có thể tỉnh lược các phần không thích ứng đó ra khỏi đoạn trích dẫn.

    2. Chức Năng

    — Làm cho phần trích dẫn trở nên cô đọng, ấn tượng và dễ nắm bắt.

    — Gây cảm xúc muốn phê bình ở người đọc.

    — Làm cho văn phong của văn bản trở nên bén nhạy hơn.

    — Làm cho luận điểm phê bình, đánh giá hay nhận định về văn bản gốc trở nên thuyết phục và đạt mục đích hơn.

    3. Cách Tỉnh Lược

    — Thay thế phần bị tỉnh lược bằng ba dấu chấm.

    — Có một khoảng cách giữa ba dấu chấm tỉnh lược.

    — Có khoảng cách trước và sau ba dấu chấm tỉnh lược đó.

    4. Ví dụ

    Về phương diện giới luật, đạo đức học Phật giáo có thể được trình bày dưới năm góc độ sau đây:

    (i) Hệ thống năm nguyên tắc đạo đức . . .

    (ii) Hệ thống tám nguyên tắc đạo đức cho người tập hạnh tu sĩ. . .

    (iii) Hệ thống mười nguyên tắc đạo đức cho người mới xuất gia.. .

    (iv) Hệ thống 250 nguyên tắc đạo đức cho Tăng và 348 cho Ni . . .

    (v) Hệ thống nguyên tắc đạo đức cho người tu hạnh Bồ-tát.

    5. Đạo Đức trong Tỉnh Lược

    Để đảm bảo tính trung thành với tư tưởng của văn bản gốc, nhà nghiên cứu không được tỉnh lược các phần sau đây:

    — các động từ diễn tả ý phủ định hay xác định trong văn bản gốc, khi bị tỉnh lược, ý tứ của mạch văn trở nên đối lập hoàn toàn với dụng ý diễn tả của tác giả.

    — các phần có thể làm cho người đọc hiểu sai ý tưởng của nguyên tác và tác giả.

    — các phần liên kết ý tưởng để trình bày một luận điểm nào đó, khi bị tỉnh lược, luận điểm của nguyên tác có thể yếu đi.

    — các phần, nếu thiếu chúng, ý tưởng của văn bản gốc có thể trở nên dị dạng hay bị méo mó.

    VII. CÁCH THÊM VÀO ĐOẠN TRÍCH DẪN

    1. Dẫn Nhập

    Trong vài trường hợp, nhà nghiên cứu muốn làm rõ ý tưởng của đoạn nguyên tác, cần phải thêm vào vài từ hay giải thích thêm vài chữ trong đoạn trích dẫn tương đối phức tạp hoặc khó hiểu.

    2. Chức Năng

    — Làm cho ý tưởng của đoạn trích được rõ ràng và dễ hiểu hơn.

    — Lưu ý độc giả về những chi tiết sai suất trong đoạn trích là thuộc về tác giả của nguyên tác, chứ không phải của người trích dẫn.

    — Làm cho đoạn trích trở nên hoàn hảo hơn.

    — Biểu tỏ cảm xúc (khen ngợi hay khinh khi) của người trích dẫn đối với tác giả của đoạn được trích dẫn.

    3. Cách Thêm Vào

    — Đặt phần được thêm vào trong dấu ngoặc vuông.

    — Đặt từ sic trong ngoặc vuông [sic] ngay sau các từ sai chính tả hay sau các thuật ngữ có vấn đề hay sau các câu sai tư tưởng, để biểu đạt thái độ chê bai của người trích dẫn đối với tác giả có văn bản được trích dẫn đó.

    4. Nội Dung của các Phần Thêm Vào

    a) [sic] : Bày tỏ thái độ bất bình hoặc chê bai.

    Ví dụ: Giáo hội Thiên Chúa Giáo tự nhận là giáo hội tôn trọng và bảo vệ tự do tín giáo [sic] và là giáo hội không hề nhún tay vào chiến tranh [sic].

    Trong ví dụ trên, [sic] đầu cho biết rằng từ “tín giáo” là từ viết sai, thay vì phải viết là “tôn giáo” và còn dụng ý rằng Thiên Chúa giáo không bao giờ tôn trọng và bảo vệ tự do tôn giáo. [sic] thứ hai nhằm dụng ý phản biện rằng Thiên Chúa giáo luôn nhún tay vào chiến tranh trên thế giới này.

    b) Bổ túc phần đứng trước nó: Bao gồm các từ, thuật ngữ, cụm từ, câu nhân danh, địa danh, từ đồng cách và đại danh từ, nhằm giải thích thêm ý tưởng của từ đứng trước nó.

    Ví dụ: Ngài (Đức Phật Thích-ca-mâu-ni) là người đầu tiên trong lịch sử nhân loại đề cao vai trò bình đẳng của người nữ và phản bác tính bất công của hệ thống giai cấp cũng như thái độ phân biệt màu da, chủng tộc.

    Trong ví dụ trên, đại danh từ “Ngài” là không xác định rõ ràng. Phần chua “Đức Phật Thích-ca-mâu-ni” là cần thiết để người đọc không lầm lẫn Đức Phật với các nhân vật khác.

    c) Lời nhận định: Bao gồm các từ ngữ hay câu nhằm biểu đạt khen ngợi hay chê bai hay chỉ nhận định thuần túy.

    Ví dụ: Theo niềm tin Kitô giáo, Thiên Chúa là Đấng Toàn Năng [làm sao có thể toàn năng!], chính Người đã tạo dựng nên thế giới muôn loài [nghĩa là cả những bão lụt, sấm sét, thiên tai, vi trùng, đủ các thứ bệnh], vậy thì việc dựng nên linh hồn cho mỗi con người đâu có khó khăn gì [các em nhỏ sơ sinh bị khuyết tật, bị bệnh chứng Down, bị trì trệ trí óc nên cám ơn Thượng Đế toàn năng này].

    Trong ví dụ trên, tác giả đã sử dụng đến ba lần chua nội dung trong dấu [ ] để biếm nhẻ và phủ bác về tính toàn năng của Thượng Đế, để cho người đọc thấy được rằng, nếu có Thượng Đế thì Thượng Đế đó không thể toàn năng và chỉ là chủ thể gây ra tai họa và khổ đau cho cuộc đời (trouble-maker).

    VIII. CÁC TRÍCH DẪN ĐẶC BIỆT

    1. Trích Dẫn trong Đoạn Trích Dẫn

    a) Trích Dẫn trong Đoạn Trích Dẫn Ngắn

    ĐCách trình bày

    — Chèn đoạn trích dẫn vào trong văn bản mà không phải thay đổi mạch khoảng cách dòng.

    — Đặt toàn bộ đoạn trích ngắn đó trong ngoặc kép.

    — Đặt phần trích dẫn trong đoạn trích dẫn ngắn trong ngoặc trích đơn.

    — Đánh số cước chú hay hậu chú sau đoạn trích đó hay chua liền xuất xứ viết tắt ngay sau đoạn trích dẫn ngắn đó.

    Ví dụ

    Để đánh đồng chức năng xã hội của các tôn giáo, các nhà truyền giáo thường đưa ra lý luận ngụy biện để lạc dẫn những người nhẹ dạ như sau đây “Đạo nào cũng ‘tốt,’ cũng dạy người ta ‘làm lành lánh dữ,’ và trong đạo nào cũng có ‘người xấu,’ ‘kẻ tốt;’ đây là chuyện thường thôi.”5

    b) Trích dẫn trong đoạn trích dẫn dài

    Cách trình bày

    — Đặt dấu hai chấm ngay sau từ cuối cùng, trước đoạn trích dẫn dài.

    — Trình bày tụt vào đầu dòng toàn bộ đoạn trích bằng một khoảng cách vào đầu dòng của văn bản đang đánh.

    — Không dùng dấu ngoặc cho đầu và cuối đoạn trích dẫn dài.

    — Sử dụng dấu ngoặc kép cho phần trích dẫn trong đoạn trích dẫn dài.

    — Đánh số cước chú hay hậu chú sau đoạn trích đó hay chua liền xuất xứ viết tắt ngay sau đoạn trích dẫn ngắn đó.

    — Ví dụ

    Sau đây là phần nhận định rất chính xác của ông Trần Chung Ngọc về điển tích Ngón Tay Chỉ Mặt Trăng trong kinh nhà Phật:

    Trong Phật giáo, trong điển “Ngón Tay Chỉ Trăng,” “mặt trăng” chỉ “chân lý,” cái chân lý mà Đức Phật đã ngộ được qua sự tu tập của bản thân, và “ngón tay” chỉ “giáo pháp,” kinh điển Phật giáo. Đức Phật đã khuyên tất cả đệ tử của Người đừng có coi giáo pháp của Người, về sau được viết trên các kinh điển, như là chân lý; có thể nhờ vào đó để đi đến chân lý chứ không chấp bắt vào đó như là chân lý.4 hoặc [Trần Chung Ngọc (1997): 95].



    2. Trích Dẫn Thơ Ca

    Có ba loại tùy thuộc theo chiều dài của thơ ca được trích dẫn.

    a) Phần trích dẫn chỉ gồm một hàng của bài thơ

    Cách trình bày

    — Hàng thơ được trích đó được đặt trong ngoặc kép.

    — Chèn hàng thơ được trích đó vào trong mạch văn và không có sự thay đổi nào về cách trình bày khoảng cách hàng.

    — Đánh số cước chú hay hậu chú sau phần trích đó hay chua liền xuất xứ viết tắt ngay sau phần trích dẫn đó.

    — Ví dụ: Vẻ đẹp của Kiều dưới ngòi bút điêu luyện của thi hào Nguyễn Du là vẻ đẹp “hoa ghen thua thắm, liễu hờn kém xinh.”6

    b) Phần trích dẫn chỉ gồm hai ba hàng của bài thơ

    Cách trình bày

    — Đặt trong ngoặc kép hai ba hàng thơ được trích dẫn.

    — Đặt dấu / giữa các hàng thơ để phân biệt chúng.

    — Chèn hai ba hàng trích đó vào trong mạch văn và không có sự thay đổi nào về cách trình bày khoảng cách hàng.

    — Đánh số cước chú hay hậu chú sau phần trích đó hay chua liền xuất xứ viết tắt ngay sau phần trích dẫn đó.

    — Ví dụ: Tự lực là một năng lực nội tại, là quá trình chuyển hoá bản thân và hoàn cảnh. Đức Phật đã nhấn mạnh đến tinh thần tự lực như là phương châm duy nhất, giúp chúng ta vượt bể khổ: "Như Lai chỉ là đạo sư, do đó hãy tự lực giác ngộ (Kinh Pháp Cú)"7

    c) Phần trích dẫn là một khổ hay đoạn hay toàn bài thơ

    — Cách trình bày

    — Đặt dấu hai chấm ngay sau từ trước phần trích dẫn.

    — Trình bày tụt vào đầu dòng toàn bộ đoạn trích bằng một khoảng cách vào đầu dòng của văn bản đang đánh.

    — Không dùng dấu ngoặc cho đầu và cuối của đoạn trích dẫn.

    — Trình bày khoảng cách hàng đơn cho các hàng thơ và khoảng cách hàng đôi giữa các khổ thơ.

    — Đánh số cước chú hay hậu chú sau phần trích đó hay chua liền xuất xứ viết tắt ngay sau phần trích dẫn đó.

    Ví dụ: Đời sống nhân quả là phương châm đạo đức đầu tiên mà Đức Phật đã răn dạy không chỉ cho đệ tử của Người mà còn cho tất cả nhân loại ngày hôm nay noi theo. Nhân quả đạo đức đó lấy con người làm nền tảng. Ở đây, con người là chủ nhân của nghiệp và do đó con người cũng sẽ là chủ thể thừa tự kết quả của nghiệp đó, như thi kệ Phật dạy dưới đây:

    Tự mình làm điều ác,
    Tự mình làm nhiễm ô.
    Tự mình làm điều lành,
    Tự mình làm trong sạch.

    Trong sạch hay nhiễm ô
    Đều do tự chính mình,
    Không ai nhiễm ô ai,
    Không ai trong sạch ai.
    (Kinh Pháp Cú, kệ 155).
    3. Trích Dẫn Gián Tiếp

    Bao gồm hai loại, đó là, trích dẫn lại phần trích dẫn của tác giả khác và trích dẫn ý tưởng của tài liệu tham khảo bằng văn phong của người cầm bút.

    a) Trích dẫn lại phần trích dẫn của tác giả khác

    Cách trình bày

    Tương tự như cách trình bày của các trích dẫn trực tiếp đã nêu trên.

    Cách ghi chú

    Trong cước chú hay hậu chú của mình, nhà nghiên cứu nên ghi rõ rằng trích dẫn này không phải do chính người cầm bút đọc và trích ra mà chỉ trích lại từ tác phẩm B của tác giả A nào đó, theo qui ước sau:

    Số cước chú+Trích lại từ/theo+Tên tác giả+Tựa đề tác phẩm in nghiêng+ chi tiết về ấn bản+số trang.

    Ví dụ

    ĐĐối với tác phẩm tiếng Việt

    9 Trích lại từ/Trích theo A. K. Warder, Indian Buddhism. (Delhi: Motilal Banarsidass, 1987), pp. 33-4.

    ĐĐối với tác phẩm tiếng Anh

    9 Quoted from/in/by A. K. Warder, Indian Buddhism. (Delhi: Motilal Banarsidass, 1987), pp. 33-4.

    Nguyên nhân và mục đích sử dụng

    — Do không truy tìm được tài liệu chứa phần trích dẫn đó.

    — Do không có đủ phương tiện để truy tìm tài liệu trích dẫn đó.

    — Nếu có những sai suất về phương diện tính thẩm quyền (như có chính xác hay không, bịa đặt hay thêm thắt v.v.. .) thì tác giả của phần trích dẫn đó chịu trách nhiệm, chứ người trích lại không chịu tránh nhiệm chi cả.

    — Nếu đoạn trích dẫn đó chính xác, không có sai lầm và có giá trị nghiên cứu thì công phát hiện ra đoạn trích này thuộc về tác giả trích dẫn đầu tiên, trong khi người trích lại chỉ có công sưu tập các trích dẫn hay mà thôi. Đây chính là đạo đức trong trích dẫn: không cướp công nghiên cứu của người khác.

    b) Trích dẫn ý của tài liệu bằng văn phong của người cầm bút

    Dẫn nhập

    Nói cách khác, đây là cách tiêu hóa ý tứ và tư tưởng của nguyên tác rồi diễn giải ý tưởng đó bằng ngôn ngữ và văn phong của người cầm bút. Cách trích dẫn này thường được cả giới sáng tác lẫn giới độc giả ưa chuộng.

    Cách trình bày

    — Viết một cách bình thường đoạn diễn đạt trong mạch văn.

    — Không sử dụng dấu ngoặc kép cho đoạn diễn đạt này.

    — Ghi số cước chú hay hậu chú ngay sau đoạn diễn đạt ý tưởng về nguyên tác.

    — Chú thích xuất xứ của đoạn diễn đạt ở phần cước chú hay hậu chú hoặc chua trong ngoặc đơn theo phong cách vắn tắt xuất xứ của đoạn diễn giải ngay sau đoạn diễn đạt ý nguyên tác đó.

    Chức năng

    — Tránh liệt kê những đoạn trích dẫn dài dòng hay không thích ứng lắm với văn mạch của văn bản.

    — Giúp cho người đọc thấy được sự giống nhau về tư tưởng của hai loại văn phong của hai tác giả khác nhau, trong hai thời điểm khác nhau.

    — Làm cho nội dung văn bản trở nên ấn tượng, dễ hiểu và thuyết phục hơn.

    — Phát huy tối đa tính luận điểm của văn bản hơn là liệt kê các trích dẫn thuần túy.

    Ví dụ

    Theo Đức Phật, hình phạt hay luật pháp khắc khe chỉ là một trong những biện pháp ngăn chặn nạn giặc cướp và trộm cắp, chứ không thể chấm dứt chúng. Để diệt trừ tận gốc rễ của nạn giặc cướp và trộm cắp, trước hết nhà lãnh đạo phải đem lại cơm no áo ấm cho muôn dân bằng cách tạo việc làm, giúp vốn, khuyến khích các tổ chức từ thiện, và sau là phải phát triển giáo dục và nâng cao dân trí.10 (Xem Kinh Trường Bộ, tập I, tr. 241-2).

    [1] Chi tiết của cách trích dẫn thơ ca được trình bày ở phần VIII. 2 của chương này.

    [2] Xem chi tiết ở phần VIII. 3. của chương này.
     
  8. admin

    admin Administrator Staff Member

    Tham gia :
    16/04/2018
    Bài viết:
    14.278
    Lượt thích:
    189
    Điểm thành tích:
    125.887
    CẨM NANG VIẾT
    KHẢO LUẬN, LUẬN VĂN VÀ LUẬN ÁN

    Thích Nhật Từ
    CHƯƠNG VIII
    THƯ MỤC THAM KHẢO
    (BIBLIOGRAPHY)

    I. ĐỊNH NGHĨA THƯ MỤC THAM KHẢO

    Thư mục hay thư tịch tham khảo (Bibliography) là bản liệt kê danh sách các tài liệu tham khảo trong bài khảo cứu, tác phẩm, sách, luận văn tốt nghiệp hay luận án. Thư mục tham khảo là sự mô tả có hệ thống về toàn bộ hay lịch sử ấn bản về một đề tài nghiên cứu nào đó bao gồm các chi tiết tên tác giả, tựa đề tác phẩm, (tên dịch giả nếu có) nơi xuất bản, nhà xuất bản, năm xuất bản hay tái bản của các tác phẩm tham khảo. Nó chủ yếu đề cập đến các nguồn gốc thông tin về sách tham khảo, và là bản liệt kê có hệ thống danh sách các tài liệu có cùng tính chất hay chung đặc điểm, chẳng hạn như cùng chủ đề hay cùng tác giả. Thư mục tham khảo còn được gọi bằng các tên khác nhau như “Thư mục trích dẫn” (Works cited hay List of Works cited), “Sách tham khảo” (Reference hay List of Reference), “Thư mục chọn lọc” (Select Bibliography) hay “Tham khảo chọn lọc” (Select Reference).

    Thư mục tham khảo có thể bao gồm sách vở, báo chí, tự điển các loại (song ngữ, thuật ngữ, đối chiếu, chuyên ngành, bách khoa..), ấn phẩm của chính phủ, các bài giảng thuyết, phỏng vấn, băng từ, phim ảnh, bảng biểu đồ, dữ liệu vi tính và ngay cả các tư liệu chưa xuất bản hay lưu hành nội bộ.

    Thư mục tham khảo còn có thể được định nghĩa như một nghệ thuật khám phá thông tin về sách vở và truyền bá thông tin đó cho người đọc, hay sự tập hợp thông tin về sách vở và tài liệu liên hệ đến một chủ đề, lãnh vực, con người, sự việc và thời kỳ nào đó.

    II. TẦM QUAN TRỌNG CỦA THƯ MỤC THAM KHẢO

    1) Nhờ sự hỗ trợ của thư mục tham khảo, công việc chọn lựa và sưu tập sách trở nên dễ dàng, nhanh chóng và hiệu quả hơn.

    2) Thư mục tham khảo giúp người đọc biết rõ về nguồn ra đời của lịch sử đề tài của một nước hay của một ngôn ngữ nào đó.

    3) Thư mục tham khảo giúp nhà nghiên cứu nâng cao thành quả nghiên cứu của mình bằng cách tiết kiệm được thời giờ trong việc tự tìm kiếm những nguồn tài liệu tham khảo mà các nhà nghiên cứu trước đã dày công đọc, phát hiện và giới thiệu.

    4) Thư mục tham khảo còn làm cho chúng ta trở nên thích thú hơn trong việc tìm hiểu và biết được văn minh và văn hóa của một nước, một dân tộc bằng cách ghi chép và lưu trữ các tài liệu văn học.

    III. CHỨC NĂNG CỦA THƯ MỤC THAM KHẢO

    1) Hỗ trợ đắc lực cho người nghiên cứu và người đọc có thể truy nguyên, đối chiếu hoặc thâm cứu về các chú thích trong cước chú hay hậu chú của tác phẩm có thư mục tham khảo.

    2) Giúp cho nhà nghiên cứu biết rõ các xuất bản hay tái bản khác nhau về một đề tài nghiên cứu nào đó không chỉ trong phạm vi của một nước mà còn ở khắp nơi trên thế giới.

    3) Cung cấp cho người đọc các chi tiết về tên tác giả, tựa đề tác phẩm, nơi XB, tên NXB, năm XB hay tái bản của các tác phẩm.

    4) Đánh giá nguồn tài liệu hay thông tin đã được nêu trong một trật tự để giúp nhà nghiên cứu giới hạn trong việc truy tìm tài liệu liên hệ.

    5) Cung cấp thông tin về lịch sử đề tài nghiên cứu từ trước đến giờ để giúp nhà nghiên cứu xác định hướng và giới hạn phạm vi nghiên cứu của mình.

    6) Cung cấp thông tin về tài liệu nghiên cứu và nhất là cung cấp dữ liệu cho việc nghiên cứu và đánh giá văn bản.

    7) Giúp nhà nghiên cứu tìm chọn hoặc mua sách chuyên ngành hay cùng lãnh vực đang nghiên cứu hay các lãnh vực liên hệ một cách nhanh chóng và hiệu quả.

    IV. SỰ KHÁC NHAU GIỮA THƯ MỤC THAM KHẢO VÀ CƯỚC CHÚ

    1. Về trật tự tên tác giả

    Nếu tác giả là người Âu Mỹ: Trong thư mục tham khảo, họ tác giả đặt trước, kế đến là tên và chữ lót, trong khi đó trong cước chú, tên tác giả đặt trước, kế đến là chữ lót và họ. Nếu tác giả là người Việt Nam thì không có sự khác nhau về cách trình bày: họ-chữ lót-tên.

    Thư mục: Warder, A. K., Indian Buddhism (Delhi: Motilal Banarsidass, 1991).

    Cước chú: A. K. Warder., Indian Buddhism (Delhi: Motilal Banarsidass, 1991).

    2. Về các Chi Tiết của Tác Phẩm

    Đối với cước chú, tên tác phẩm có thể viết tắt,[1] nơi XB, nhà XB và năm XB có thể tỉnh lược trong một số trường hợp, trong khi đối với thư mục tham khảo, các chi tiết này phải ghi đầy đủ trong mọi trường hợp.

    3. Về Mục Đích

    Cước chú nhằm xác định xuất xứ của tài liệu trích dẫn trong khi thư mục tham khảo nhằm cung cấp cho người đọc đầy đủ chi tiết về nguồn tài liệu để tham khảo, truy cứu, khi cần thiết.

    V. CÁC QUI ĐỊNH CĂN BẢN VỀ THƯ MỤC THAM KHẢO

    1. Về Vị Trí

    Thư mục tham khảo thường được đặt trước phần phụ lục hay phụ bản và ngay sau chương cuối cùng hay trang cuối cùng của một tác phẩm, sách, luận văn, luận án hay bài khảo cứu.

    2. Về Cách Trình Bày

    Tiêu đề “THƯ MỤC THAM KHẢO” phải được viết bằng chữ in hoa ở chính giữa hàng đầu tiên của trang đầu tiên của mục này. Không cần gạch dưới hay chấm câu cho tiêu đề thư mục tham khảo.

    3. Về Trật Tự

    Thư mục tham khảo phải được xếp theo thứ thự mẫu tự của tên tác giả (đối với thư mục tên tác giả) hoặc tựa đề tác phẩm (đối với thư mục tên tác phẩm hay tài liệu gốc thuộc kinh điển của các tôn giáo).

    4. Về Nội Dung

    Thư mục tham khảo phải bao gồm các chi tiết tên tác giả, tựa đề tác phẩm nguyên tác, (người dịch hay xuất bản, tựa đề bản dịch nếu có), nơi xuất bản, nhà xuất bản, năm xuất bản hay tái bản và giới hạn số chương, mục, trang, đối với các bài nghiên cứu trong bách khoa hay tạp chí.

    5. Về Phép Viết Hoa và Nghiêng

    a) Viết hoa toàn bộ tên họ tác giả, Nơi XB, Nhà XB.

    b) Viết hoa tên tác phẩm, ngoại trừ các liên từ, giới từ, mạo từ xác định. Nếu ba từ loại này đứng đầu câu trong tên tác phẩm tham khảo thì chúng phải được viết hoa.

    c) Chỉ in nghiêng tên tác phẩm.

    6. Về Cách Trình Bày Tên Tác Giả

    a) Nếu tác giả là người Âu Mỹ thì tên họ của ông/bà được ghi theo trật tự sau: Họ +Tên+ Chữ lót (nếu viết tắt tên và chữ lót thì sau tên và chữ lót phải có dấu chấm). Nhưng đối với cước chú hay hậu chú, trật tự này như sau: Tên + Chữ lót + Họ.

    b) Nếu tác giả là người Trung Quốc thì tên họ của ông/bà được ghi theo trật tự sau: Họ (dấu phết) Chữ lót-tên (chữ lót hoa, tên viết thường và có gạch nối ở giữa).

    c) Nếu tác giả là người Việt Nam thì tên họ của ông/bà được ghi theo trật tự sau: Họ-Chữ lót-Tên (viết hoa đầy đủ và có gạch nối giữa các thành tố). Cách viết này giúp cho người Việt Nam dễ dàng tra cứu nhân danh người Việt trong các tác phẩm Anh Pháp hơn; bằng không tên sẽ được hiểu là họ và ngược lại, họ là tên.

    d) Tên và chữ lót của tác giả có thể viết tắt bằng các chữ cái đầu tiên với một dấu chấm sau chúng. Nhưng nếu tác giả là người nữ thì tên của bà không được viết tắt.

    e) Đối với tác giả có từ 2 tác phẩm trở lên, từ tác phẩm thứ 2 trở đi này, tên tác giả được tỉnh lược bằng cách điền chữ “idem hay do hay bằng một gạch ngang dài bằng khoảng cách tên tác giả đó và cuối gạch ngang có một dấu chấm trước tựa tác phẩm.” Trong trường hợp này, tựa đề của các tác phẩm đồng tác giả cũng phải được sắp theo thứ tự của mẫu tự.

    7. Chi Tiết về Ấn Bản

    a) Ghi đầy đủ nơi xuất bản và tên nhà xuất bản. Nếu trong tài liệu tham khảo không có ghi tên nhà xuất bản thì ta có thể để trống hay ghi ký hiệu “n.p.” (no publisher) cho tác phẩm tiếng Anh; “p.e.” (pas d’éditions) cho tác phẩm tiếng Pháp và knxb (không nhà xuất bản) cho tác phẩm tiếng Việt.

    b) Ghi rõ năm xuất bản hay tái bản của tác phẩm được trưng dẫn. Nếu trong tài liệu tham khảo không có ghi năm xuất bản và tái bản thì ta ghi ký hiệu “n.d.” (no date of publication) cho tác phẩm tiếng Anh; “p.d.” (pas de date) cho tác phẩm tiếng Pháp và kn (không năm xuất bản) cho tác phẩm tiếng Việt.

    c) Năm XB có thể đặt sau nhà XB theo trật tự sau đây (Nơi XB: NhàXB, năm XB), và cũng có thể đặt sau tên tác giả nhưng phải bỏ trong ngoặc đơn và sau nó phải có dấu chấm.

    8. Về Số Trang

    Không cần ghi số trang nếu tài liệu tham khảo là sách, luận văn, luận án hay bài khảo luận. Nếu tài liệu tham khảo là từ điển bách khoa hay báo chí, tạp chí thì tổng số trang của bài nghiên cứu hay của mục từ được tham cứu phải liệt kê ra, để cho người đọc dễ truy cứu, khi cần.

    VI. PHÂN LOẠI THƯ MỤC THAM KHẢO

    Sự khác nhau về mục đích và sở thích là nền tảng của sản phẩm và phân loại thư mục thành nhiều dạng thức. Mỗi loại thư mục đóng một chức năng khác nhau trong việc trả lời hay đáp ứng các nhu cầu khác nhau của người nghiên cứu. Ngoài ra, yếu tố thời gian, không gian, phạm vi, loại hình tài liệu và sự sắp xếp cũng là những yếu tố quan trọng trong việc xác định loại hình khác nhau của thư mục.

    A) Loại Thư Mục Chính

    Có hai loại thư mục chính là thư mục tác phẩm hay tài liệu gốc (Primary bibliography) và thư mục tác phẩm hay tài liệu hai (Secondary bibliography).

    1. Thư Mục Tài Liệu Gốc (Primary Bibliography or Source)

    Là danh sách các tác phẩm hay sáng tác hay giảng dạy của một nhân vật về một chủ đề nào đó. Có hai loại tài liệu gốc: tài liệu gốc thuộc kinh điển tôn giáo và tài liệu gốc không thuộc kinh điển tôn giáo.

    a) Tài liệu gốc thuộc kinh điển tôn giáo là các sáng tác bằng văn bản của chính người sáng lập ra tôn giáo đó hay những lời giảng dạy truyền miệng của vị giáo chủ đó được hậu thế ghi chép lại thành văn bản về sau.

    b) Tài liệu gốc không thuộc tôn giáo là các sáng tác bằng văn bản của một cá nhân.

    Ví dụ, khi viết về Đức Phật, về tư tưởng và học thuyết của ngài thì ba tạng Kinh điển Pli được xem là tài liệu gốc. Tương tự, viết về tư tưởng và học thuyết của triết gia Bertrand Russell thì tất cả các sáng tác của chính ông được xem là tài liệu gốc.

    2. Thư Mục Tài Liệu Hai hay Tác Phẩm Nghiên Cứu (Secondary Bibliography or Secondary Source or Studies)

    Thư mục tài liệu hai là danh sách các tác phẩm nghiên cứu, phê bình, nhận định, đánh giá về tài liệu gốc của một nhân vật nào đó. Ví dụ, các tác phẩm viết về đức Phật từ trước đến giờ bằng nhiều thứ tiếng khác nhau trên thế giới được xem là nguồn tài liệu hai về ngài. Tương tự, các tác phẩm nghiên cứu, phê bình, nhận định, đánh giá về các sáng tác của Russell trên khắp thế giới được xem là các tài liệu hai.

    B) Các Loại Thư Mục Khác

    Trên đây là hai loại thư mục thường gặp nhất và được sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới từ trước tới giờ cho việc soạn thảo và sử dụng thư mục tham khảo của sách, bài khảo cứu, luận văn tốt nghiệp hay luận án. Ngoài ra còn có nhiều loại thư mục khác nhau, phục vụ cho các mục đích khác nhau và được phân loại khác nhau tùy theo từng học giả. Dưới đây là sự mô tả tóm lược về vài loại thư mục thường gặp.

    1. Thư Mục Tác Giả (Author’s bibliography or Author-wise Bibliography)

    Là danh sách các sáng tác hay tác phẩm được sắp xếp theo thứ tự của mẫu tự tên tác giả. Loại thư mục này thường được sử dụng làm thư mục tài liệu gốc không thuộc kinh điển tôn giáo và thư mục tài liệu hai hay tài liệu nghiên cứu. Ngoài ra, nó còn được sử dụng trong phong cách cước chú chi tiết ở cuối mỗi trang giấy hay hậu chú sau mỗi chương hay ở cuối sách. Nếu một tác giả có nhiều tác phẩm trong thư mục thì từ tác phẩm thứ hai trở đi, tên tác giả sẽ được tỉnh lược bằng cách thay thế từ idem hay do hay một gạch ngang dài có dấu chấm ở cuối, trước tựa đề tác phẩm. Trong trường hợp này, trật tự của các tác phẩm này phải được sắp xếp theo thứ tự mẫu tự của tựa đề tác phẩm.

    2. Thư Mục Tựa Đề (Title-wise Bibliography)

    Là danh sách các sáng tác hay tác phẩm được sắp xếp theo thứ tự của mẫu tự tựa đề tác phẩm. Loại thư mục này thường được sử dụng trong các quyển catalogue giới thiệu sách của các nhà xuất bản, và ngày càng ít được sử dụng làm thư mục tham khảo cuối sách, bài khảo luận, luận văn hay luận án như trước đây.

    3. Thư Mục Chủ Đề (Subject Bibliography)

    Là danh sách tài liệu hay sáng tác đầy đủ về một chủ đề nào đó. Chủ đề ở đây có thể là con người, nơi chốn, thời kỳ, vấn đề hay đề tài nào đó. Loại thư mục này rất hữu dụng cho các chuyên gia hay nhà nghiên cứu, giúp họ biết tất cả các tài liệu hiện hành về chủ đề mà họ đang theo đuổi hay nghiên cứu.

    4. Thư Mục Chọn Lọc (Electic or Selective Bibliography)

    Là danh sách các tác phẩm hay sách hay nhất (best books) cho một loại thư viện hay loại độc giả nhất định. Đây là loại công cụ tốt nhất để chọn lọc tài liệu chuyên ngành và đóng vai trò đáp ứng mục đích chọn lọc trong nghiên cứu.

    Ví dụ: Bhatt, S. S., Indian Best Books. (Delhi: Government of India, 1996).

    5. Thư Mục Quốc Gia (National Bibliography)

    Là danh sách tất cả các sách hay tác phẩm sáng tác của một quốc gia. Mỗi mục trong thư mục loại này bao gồm tên tác giả, tựa đề tác phẩm, nơi xuất bản, nhà xuất bản, năm xuất bản và giá cả. Yếu tố địa dư đóng vai trò quan trọng trong loại thư mục này.

    Ví dụ: Indian National Bibliography, Delhi: 1998.

    6. Thư Mục Thương Mại (Trade Bibliography)

    Là sách về thư mục của các nhà xuất bản, người bán sách, nhà in nhằm giới thiệu danh sách các tác phẩm hiện hành.

    Ví dụ: Books in Print.

    7. Thư Mục về Thư Mục (Bibliography of Bibliographies)[2]

    Là loại sách thư mục giới thiệu các loại thư mục khác nhau về các chủ đề khác nhau. Loại sách thư mục này thường bao gồm các loại thư mục sau đây:

    a) Thư mục người tiêu dùng (Consumer bibliography):

    — Danh sách tác phẩm cần đọc (Reading Lists).

    — Thư mục tên tác giả (Author’s bibliography).

    b) Thư mục tư tưởng của người phân phối (Distributor’ s [thought] bibliography):

    — Thư mục chủ đề (Subject bibliography).

    — Danh sách sách chọn lọc (Book-selection lists).

    — Danh mục thư viện (Library catalogues).

    c) Thư mục tài liệu của người phân phối (Distributor’s [material] bibliography):

    — Danh mục của nhà xuất bản (Publishers’ catalogues).

    — Danh mục của người bán sách (Book-sellers’ catalogues).

    d) Thư mục tư liệu của nhà sản xuất (Producers’ [material] bibliography):

    — Danh sách tác quyền (Copyright lists).

    — Thư mục nhà in (Printers’ bibliography).

    — Thư mục người đóng sách (Binders’ bibliography).

    e) Thư mục tư tưởng của nhà sản suất (Producers’ [thought] bibliography):

    — Thư mục tác giả (Author bibliography).

    VII. CÁCH TRÌNH BÀY THƯ MỤC TÀI LIỆU GỐC[3] KHÔNG THUỘC KINH ĐIỂN TÔN GIÁO VÀTHƯ MỤC TÁC PHẨM NGHIÊN CỨU

    a) SÁCH

    1. Sách chỉ Có một Tác Giả

    Họ+ tên+ chữ lót tác giả. (năm XB) Tên tác phẩm in nghiêng, số tập, Nơi XB: NXB.

    Wayman, Alex. (1974). The Lion’s Roar of Queen Ưriml, New York: Columbia University Press.

    Họ+ Tên+ Chữ lót tác giả., Tên tác phẩm in nghiêng, số tập, (Nơi XB: NXB, năm XB).

    Sopa, G., Lectures in Tibetan Buddhism, 2 vols, (Delhi: Motilal Banarsidass, 1986).

    2. Sách chỉ Có một Người Dịch hay Biên Tập

    Họ+Tên+Chữ lót người biên tập. (ed.) (năm XB) :)) Tên tác phẩm in nghiêng, số tập, Nơi XB, NXB.

    Lancaster, L., (ed.) (1977). Praj–pramit and Related Systems, Berkeley, University of California Press.

    Họ+Tên+Chữ lót dịch giảû. (trans.) (năm XB) :)) Tên tác phẩm in nghiêng, số tập, Nơi XB: NXB.

    Anacker, S. (trans.) (1984). Seven Works of Vasubandhu, Delhi: Motilal Banarsidass.

    Phạm Kim Khánh. (dịch) (1991). Đức Phật và Phật Pháp, Hồ Chí Minh: Thành Hội Phật Giáo TP. Hồ Chí Minh.

    3. Sách gồm có Dịch Giả và Người Ấn Hành

    Họ+Tên+Chữ lót dịch giả. (trans.), Họ, tên người ấn hành. (ed. / bt.) (năm XB) Tên dịch phẩm in nghiêng (tên nguyên tác trong ngoặc đơn in nghiêng), Nơi XB: NXB.

    Bhattacharya, K. (trans.), Johnston, E. H. and Kunst, A. (eds) (1978). The Dialectical Method of Ngrjuna (Vigrahavyvartan), Delhi: Motilal Banarsidass.

    4. Sách Gồm có Tác Giả và Người Ấn Hành / Biên Tập

    Họ+Tên+Chữ lót tác giả. (năm XB) Tên tác phẩm in nghiêng, ed. / bt. Tên họ người ấn hành, Nơi XB: NXB.

    Jayatilleke, K. N. (1974). The Message of the Buddha, ed. Ninian Smart, New York: Free Press.

    5. Sách gồm Có 2 Tác Giả hay 2 Dịch Giả hay 2 Biên Tập Viên

    Họ+Tên+Chữ lót 2 dịch giả/biên tập viên. (trans. / eds.) (năm XB) Tên tác phẩm in nghiêng, Nơi XB: NXB.

    Grazia, A. D., and Stevenson, F. H. (eds.) (1965). World Politics, New Nork: Barnes and Noble.

    Trần Tam và Trần Tứ. (dịch) (1997). Phật Giáo Ngày Nay, Hồ Chí Minh: NXB Tuổi Trẻ.

    6. Sách Gồm Nhiều Tác Giả hay Nhiều Biên Tập Viên

    Họ+Tên+Chữ lót tác giả. et al. / và tgk. (năm XB) Tên tác phẩm in nghiêng, Nơi XB: NXB.

    Jamspal, L. et al. (1978). Ngrjuna’s Letter to King Gautamputra, Delhi: Motilal Banarsidass.

    Thích-Minh-Châu và tgk. (1964). Đường về Xứ Phật, Sài Gòn: Viện Đại Học Vạn Hạnh.

    b) BÀI NGHIÊN CỨU TRONG TUYỂN TẬP / TỰ ĐIỂN BÁCH KHOA

    Họ+Tên+Chữ lót tác giả., “Tên bài nghiên cứu,” in Họ Tên người biên tập (ed.) Tên tuyển tập / bách khoa tự điển in nghiêng, (năm XB) Nơi XB: NXB, số tập : số trang.

    Kalupahana, D. J., “Dhamma (1),” in Malalasekera, G. P. (ed.) Encyclopaedia of Buddhism, (1979). Sri lanka: The Government of Sri lanka, vol. IV: 438-53.

    Schlossberger, E., “The Self in Wittgenstein’s Tratatus,” in Leinfellner, E., et al. (eds.) Wittgenstein and His Compact on Contemporary Thought, (1978). London: Croomhelm, pp. 2-9.

    c) BÀI NGHIÊN CỨU TRONG TẠP CHÍ HAY BÁO CHÍ

    Họ+Tên+Chữ lót tác giả., “Tên bài nghiên cứu,” Tên tạp chí / báo chí in nghiêng, (Nơi XB), số tập (ngày XB), số trang.

    Thích-Duy-Tân., “Bàn về quyển Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam,” Giác Ngộ, (Hồ Chí Minh), số 34 (11-8-1989), 3-4.

    Richard. W. M., “Wittgenstein, Lion and Other Animals,” University of Dayton Review (Dayton, U.S.A), vol. 9, no. 2 (1970), 144-53.

    d) BÀI VIẾT KHÔNG CÓ TÊN TÁC GIẢ

    Tên bài viết trong ngoặc, Tên báo / tạp chí / tự điển / bách khoa in nghiêng, số tập (ngày XB), trang.

    ‘Chùa Một Cột’, Tư Tưởng Vạn Hạnh, số 37 (ngày 12-12-1963), 123-65.

    e) PHỤ TRƯƠNG CỦA BÁO / TẠP CHÍ

    Họ+Tên+Chữ lót tác giả. Tên bài viết trong ngoặc, Tên báo / tạp chí, Phụ trương số (ngày XB), trang.

    Trần Anh. ‘Huế của Ta’, Nhân Dân, Phụ trương số 23 (1990), 123-44.

    Warder, A. K., ‘Dhamma and Data’, Journal of Indian Philosophy, Dordrecht (Reidel) 1971.

    f) LUẬN ÁN CHƯA XUẤT BẢN

    Họ+Tên+Chữ lót tác giả. (năm trình) Tên luận án in nghiêng, bậc luận án. Địa điểm trường: tên trường đại học.

    Sait‡, A. (1984). The Emptiness of Emptiness, Ph. D. Dissertation. Delhi: University of Delhi.

    Bhatta, A. (1990) Buddhism in America, M. A. Dissertation. Washington: University of Washington.

    g) ẤN PHẨM CỦA TỔ CHỨC HAY CHÍNH PHỦ

    Tên tổ chức / chính phủ. (năm XB) Tên văn bản in nghiêng. Nơi XB: Nhà XB.

    United Nations Centre for National Resources. (1980) Petroleum Enterprises in Developing Countries. Elmsford: Pergamon.

    Giáo hội Phật Giáo Việt Nam. (1981). Hiến Chương Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam. Hồ Chí Minh: Ban In Aán GHPGVN.

    h) BÀI GIẢNG THUYẾT

    Họ+Tên người thuyết trình. (ngày tháng năm thuyết trình) “đề tài giảng thuyết,” Lecture / Giảng thuyết in nghiêng. Địa điểm giảng thuyết: hội trường / tên trường.

    Thích-Mãn-Giác. (11-12-1963). “Bồ-tát Thích Quảng Đức,” Giảng Thuyết. Sài Gòn: Trường Đại Học Vạn Hạnh.

    i) BẢN PHÚC TRÌNH

    Họ+Tên+Chữ lót người phúc trình. Tựa đề phúc trình in nghiêng. Nơi phúc trình: ngày phúc trình.

    Allen, A. B. et al. Delhi University Research Scientist Report. Delhi: 3-3-1996.

    j) PHỎNG VẤN
    Họ+Tên, chức vụ người được phỏng vấn, Interview / Phỏng Vấn in nghiêng. (Nơi phỏng vấn: ngày phỏng vấn).

    Thích Trí Tịnh, Chủ tịch, GHPGVN, Phỏng Vấn. (Thủ Đức: ngày 12-7-1998).

    k) THƯ TỪ
    Họ+Tên, chức vụ người viết thư, Letter / Thư Từ in nghiêng. (nơi viết: ngày viết).

    Trần-Tiến, Giáo sư Sử học, Trường Đại học Cần Thơ, Thư Từ. (Cần Thơ: 12-2-1956).

    l) PHẦN MỀM VI TÍNH

    Họ+Tên+Chữ lót người viết chương trình. (năm ấn bản) Tên phần mềm in nghiêng, version / số ấn bản. Computer Software / Phần mềm vi tính, Tên nhà xuất bản.

    Richard, R. C. (1997). Windows 97 Photoshop, version 1.2. Computer Software, Microsoft Company.

    N) WEBSITE

    Họ+Tên+Chữ lót tác giả/ dịch giả. Tên tác phẩm in nghiêng. Địa chỉ truy cập chi tiết của Website chứa tài liệu trích dẫn

    Minh Châu, Thích (dịch). Kinh Trường Bộ. http://members.nbci.com/_XMCM/budtoday/viet/kinh/pali/Truongbo0.htm

    VIII. CÁCH TRÌNH BÀY THƯ MỤC TÀI LIỆU GỐC
    THUỘC KINH ĐIỂN TÔN GIÁO

    Có hai loại tài liệu gốc: loại kinh điển tôn giáo và loại tác phẩm không thuộc kinh điển tôn giáo. Đối với các tác phẩm thuộc kinh điển tôn giáo, tên tác giả luôn được tỉnh lược, vì tác giả của các kinh điển này cũng chính là vị sáng lập ra tôn giáo đó, do đó, không cần nêu ra thì người đọc cũng biết và không bị lẫn lộn. Tựa của các tác phẩm kinh điển phải được sắp xếp theo thứ tự mẫu tự. Lưu ý, các mạo từ đứng đầu tựa đề tác phẩm không tính theo thứ tự mẫu tự. Đối với các tác phẩm không thuộc kinh điển tôn giáo thì các yếu tố họ-tên-chữ lót tác giả, tựa tác phẩm, nơi xuất bản, nhà xuất bản và năm xuất bản hay tái bản phải hội đủ. Cách trình bày chúng cũng giống như cách trình bày “thư mục tên tác giả hay thư mục tài liệu hai.” Sau đây là cách trình bày thư mục tài liệu gốc thuộc kinh điển tôn giáo:

    1. Chỉ Có Bản Nguyên Tác

    Tựa nguyên tác in nghiêng, số tập, ed. by Họ+Tên người ấn hành. (Nơi XB: nhà XB, năm XB).

    AÏguttara Nikya, 4 vols, ed. by Kasyapa, Bhikkhu G. (Nalanda: Bihar Government, 1960).

    Dgha Nikya, 3 Vols, ed. by Rhys Davids, T.W., & Capenter, J. E. (London: PTS, 1890-1911).

    2. Chỉ Có Bản Dịch

    Tựa bản dịch in nghiêng, số tập, tr. by Họ+Tên dịch giả. (Nơi XB: nhà XB, năm XB).

    The Gradual Sayings, tr. Woodward, E. L. (London: PTS, 1989).

    Kinh Tăng Chi Bộ, tập II, Thích Minh Châu dịch. (Hồ Chí Minh: Viện Nghiên Cứu Phật Học Việt Nam, 1996).

    3. Gồm Nguyên Tác và Bản Dịch

    Tên nguyên tác in nghiêng, số tập, ed. by Họ+Tênï người ấn hành. (Nơi XB: Nhà XB, năm XB) ; tr. by Họ+Tên dịch giả, Tên dịch phẩm in nghiêng. (Nơi XB: NhàXB, năm XB).

    Aơguttara Nikya, 6 Vols, ed. by Morris, R., Hardy, E., & Rhys Davids, C. A. F. (London: PTS, 1885-1910); tr. by Woodward, E. L., The Gradual Sayings. (London: PTS, 1989).

    Dgha Nikya, 3 Vols, ed. by Rhys Davids, T.W., & Capenter, J. E. (London: PTS, 1890-1911); tr. by Nalsha, Maurice. The Long Discourses (London: PTS, 1987).

    Khuddaka Nikya, 15 Vols, ed. by Tucci, G. (London: P.T.S); tr. by Nanamoli, Bhikkhu. The Minor Reading. (London: PTS, 1991).

    Majjhima Nikya, 4 Vols, ed. by Trenck, V., Chalmer, R. & Mrs. Rhys Davids. (London: PTS, 1888-1925); tr. by Horner, I.B. The Middle Length Sayings (London: PTS, 1987).

    Saịyutta Nikya, 4 Vols, ed. by Feer, L. & Mrs Rhys Davids. (London: PTS, 1884-1925); tr. by Rhys Davids, The Kindred Sayings. (London: PTS, 1989).

    IX. CÁCH TRÌNH BÀY THƯ MỤC THAM KHẢO NHẤN MẠNH NĂM XB

    Thư mục tham khảo nhấn mạnh năm xuất bản là thư mục đặt số năm xuất bản hay tái bản trong ngoặc đơn ngay sau tên tác giả. Thư mục này tương ứng với loại chú thích vắn tắt nhấn mạnh năm xuất bản, để giúp cho nhà nghiên cứu trình bày một cách ngắn gọn các chú thích và không làm phân tâm độc giả trong khi đọc.

    Loại thư mục này chỉ áp dụng cho tài liệu nghiên cứu (Secondary Sources / Studies) và tài liệu gốc không thuộc kinh điển tôn giáo (Primary Sources excluding Religious Bibles) và không thể áp dụng cho tài liệu gốc thuộc kinh điển tôn giáo. Vì đối với tài liệu gốc thuộc kinh điển tôn giáo, tên tác giả (được hiểu là vị khai sáng ra tôn giáo đó) được tỉnh lược, do vậy, các kinh điển gốc của tôn giáo được liệt vào thư mục tên tác phẩm.

    Trình tự của thư mục nhấn mạnh năm xuất bản như sau:

    1. Đối với Tác Giả chỉ Có một Tác Phẩm

    Họ + Chữ lót + Tên tác giả. (năm XB) Tựa tác phẩm in nghiêng. Nơi XB: năm XB.

    Warder, A. K. (1991). Indian Buddhism. Delhi: Motilal Banarsidass.

    Cassirer, Bruno. (1967). Thirty Years of Buddhist Studies: Selected Essays by Eward Conze. London: Bruno Cassirer Publishers Ltd.

    2. Đối với Tác Giả Có Nhiều Tác Phẩm Khác Năm Xuất Bản

    Về cách trình bày: cũng giống như trường hợp “tác giả chỉ có một tác phẩm trong thư mục tham khảo.”

    Về trật tự: trật tự của các tác phẩm này phải sắp theo biên niên kỷ, nghĩa là quyển nào xuất bản trước thì đứng trước và ngược lại.

    Warder, A. K. (1974). Introduction to Pali. London: PTS.

    __________. (1991). Indian Buddhism. Delhi: Motilal Banarsidass.

    3. Đối với Tác Giả Có Ít Nhất 2 Tác Phẩm Xuất Bản cùng Năm

    Để tránh sự lẫn lộn trong khi trích dẫn cước chú hay hậu chú về các tác phẩm xuất bản cùng năm của cùng một tác giả được nêu trong thư mục tham khảo, bạn nên thêm ký hiệu a, b, c, d, ngay sau năm XB của các tác phẩm, để phân biệt chúng. Chi tiết của cách cước chú này, do đó, chỉ gồm:

    Họ + Tên + Chữ lót tác giả. (năm a/b) Tên tác phẩm in nghiêng. Nơi XB: năm XB.

    Wittgenstein, L., (1954a) Philosophical Atomism. London: Basil Backwell.

    __________. (1954b) Philosophical Investigations. London: Basil Backwell.

    X. CÁCH SOẠN THƯ MỤC THAM KHẢO VỀ MỘT CHỦ ĐỀ

    Để soạn thảo tốt thư mục tham khảo về một chủ đề, người nghiên cứu cần cân nhắc một số điều sau đây: — Giới hạn lãnh vực và phạm vi nghiên cứu? — Tác phẩm thuộc chọn lọc hay toàn diện? — Loại hình tài liệu nào cần phải có? — Hình thức loại mục nào cần sử dụng? Sau đó người nghiên cứu cần lưu ý hay nắm vững các điểm sau đây:

    1) Phạm Vi Văn Học của Đề Tài: Người nghiên cứu cần nắm vững hiện có bao nhiêu tài liệu và loại hình tài liệu nào cần thiết cho chủ đề nghiên cứu và cần đưa vào thư mục tham khảo.

    2) Công Cụ Hỗ Trợ Nghiên Cứu: Các công cụ nghiên cứu cần tham khảo là các loại bách khoa (encyclopedias), danh bạ sách (directories), danh mục sách (catalogues), các dịch vụ tóm tắt tác phẩm, luận văn và luận án (abstracting services), các loại tạp chí (periodicals), luận văn và luận án (dissertations and theses), mục điểm sách (book reviews). Các công cụ này một mặt giúp nhà nghiên cứu biết được các bài viết và sách vở chuyên ngành hay liên hệ đến đề tài và mặt khác cung cấp cho nhà nghiên cứu các kiến thức căn bản về đề tài nghiên cứu.

    3) Kiến Thức về Chủ Đề: Bao gồm kiến thức làm việc về chủ đề, kiến thức về các phân loại về chủ đề, kiến thức về thuật ngữ về chủ dề, kiến thức về lịch sử đề tài và kiến thức về các tác phẩm nền tảng về chủ đề.

    4) Kiến Thức về Nguồn Tài Liệu: Người nghiên cứu cần nắm vững cơ sở của nguồn tài liệu, nơi lưu hành, hình thức, thời gian và ngôn ngữ của tài liệu, để tham khảo khi cần đến.

    5) Xác Định Đề Mục của Chủ Đề: Sau khi biết được nguồn lưu hành tài liệu, người nghiên cứu cần xác định chính xác loại đề mục của chủ đề để phân loại tài liệu đúng cách và dễ dàng tra khảo.

    6) Tham Vấn Chuyên Gia về Đề Tài: Người nghiên cứu nên tham cứu các chuyên gia về chủ đề đang nghiên cứu để nắm vững và biết thêm các nguồn tài liệu quý hiếm và chưa được công bố.

    7) Chọn Lọc Nguồn Tài Liệu: Có hai nguồn tài liệu là tài liệu xuất bản và tài liệu chưa xuất bản. Tài liệu đã xuất bản bao gồm các loại thư mục (bibliographies), các bản chỉ dẫn về thuật ngữ, nhân danh và địa danh (indexes), danh mục đã in ấn (printed catalogues), các sách hướng dẫn văn học về đề tài (guides to literatures), dịch vụ tóm tắt luận án và sách (abstracting services). . . Tài liệu chưa xuất bản bao gồm các danh mục thư viện (library catalogues), các tài liệu văn bản thuộc các viện (institutional records) và các sáng tác hay tư liệu cá nhân (individual records).

    8) Đánh Giá Nguồn Tư Liệu: Người nghiên cứu cần đánh giá hoặc ghi chú về tính thẩm quyền của tác giả; phạm vi, mục đích, phong cách tác phẩm và các đặc điểm nếu có, để tránh mất thời giờ tìm đọc những tác phẩm không có giá trị và do đó, không đáng đưa vào thư mục tham khảo.

    9) Sắp Xếp Mục Loại: Bao gồm cách sắp xếp theo phân loại, theo biên niên kỷ, theo mẫu tự tác giả và tác phẩm, theo tài liệu gốc và theo tài liệu hai. Cách sắp xếp theo phân loại chỉ thích ứng cho thư mục chủ đề. Cách sắp xếp theo biên niên kỷ chỉ thích hợp với tác phẩm đồng tác giả. Cách sắp xếp theo mẫu tự tác giả là loại phổ biến nhất và có thể áp dụng cho cả tác phẩm gốc không thuộc kinh điển tôn giáo và tài liệu hai. Cách sắp xếp theo mẫu tự tựa tác phẩm có thể áp dụng cho tài liệu gốc thuộc kinh điển tôn giáo. Cách sắp xếp tài liệu gốc thuộc tôn giáo có thể tỉnh lược tên tác giả. Cách sắp xếp tài liệu gốc không thuộc tôn giáo và tài liệu hai thường theo thứ tự mẫu tự tên tác giả.

    Nói cách khác, sau khi chọn đề tài, tham vấn các chuyên gia, tìm đọc thư viện và các công cụ hỗ trợ nghiên cứu, người nghiên cứu có được kiến thức căn bản về văn học và phạm vi đề tài rồi tiến hành chọn và làm mục loại cho thư mục của mình. Mục loại phải được sắp theo tài liệu gốc trước và tài liệu nghiên cứu sau. Người nghiên cứu phải trình bày theo mặc ước quốc tế về phép viết hoa, in nghiêng, chấm phết và trật tự trước sau của các chi tiết tên tác giả, tựa tác phẩm, người biên tập, dịch giả, nơi xuất bản, nhà xuất bản, năm xuất bản hay tái bản cho từng loại hình tài liệu khác nhau, như đã được trình bày trong chương này.

    Điều cần lưu ý là trong quá trình nghiên cứu, nhà nghiên cứu phải biết tận dụng tài liệu trích dẫn và tham khảo để làm sáng tỏ các luận điểm của mình. Nguồn tài liệu trích dẫn và tham khảo, do đó, trở thành công cụ đắc lực trong việc nối dài tư tưởng của người viết đến người đọc thông qua tiếng nói của các nhà học giả trong cùng lãnh vực. Tại Việt Nam, thường có quan niệm cho rằng tác phẩm hay không cần trích dẫn nhiều. Tệ hơn nữa, có người còn cho việc trích dẫn kinh sách chỉ là công việc "từ chương." Quan niệm này chỉ đúng với các loại sách tư tưởng và tôn giáo. Đối với loại sách này đối tượng độc giả thường là những người tìm kiếm các thông tin "sống" hoặc những "lời hay ý đẹp" để ứng dụng vào đời sống. Họ không cần biết đến xuất xứ của những ý tưởng được trình bày trong sách, và ai là tác giả của chúng. Họ chỉ cần đọc các thông tin và kiến thức được chuyển tải trong sách bằng một giọng văn nhẹ nhàng, trong sáng, để mà thưởng thức hay ứng dụng. Tuy nhiên, sách loại này không giúp nhiều cho giới độc giả muốn truy tầm nguồn gốc hay tính nguyên thủy của tài liệu và thông tin. Quý độc giả của loại sách này thường thích truy nguyên nguồn tài liệu, do đó các trích dẫn và thư mục tham khảo sẽ trở thành nguồn thông tin quý báu, giúp họ tiến sâu vào lãnh vực nghiên cứu và đóng góp nhiều điều mới mẻ cho học giới.

    Nói tóm lại, tuỳ theo bản chất, đối tượng và mục tiêu mà nhà nghiên cứu nên chọn lựa cách viết thích hợp cho mình. Dù có dẫn chứng và minh hoạ bằng nhiều tác phẩm hay không, điều mà nhà nghiên cứu cần lưu ý là phải phát triển càng nhiều càng tốt các quan điểm, cách tiếp cận và các góc độ nghiên cứu riêng để tạo nên đặc điểm của tác phẩm. Có như vậy thì tác phẩm của mình mới thật sự đóng góp vào văn học của lãnh vực mà mình đang nghiên cứu.

    [1] Xem phần VII. Phong cách trình bày cước chú và hậu chú vắn tắt trong chương này

    [2] Ram S. Sharma. (ed.) Bibliography and Documentation. (Patiala: Madan Publishers, 1974), pp. 88-9.

    [3] Tổng hợp từ T. R. Ramachandra., op. cit., pp. 48-52; S. K. Dass., op. cit., pp. 75-84; J. Anderson et al., op. cit., pp. 61-71; Judith Butcher., op. cit., pp. 226-261; B. S. Manhas., op. cit., pp. 10-21.
     
  9. admin

    admin Administrator Staff Member

    Tham gia :
    16/04/2018
    Bài viết:
    14.278
    Lượt thích:
    189
    Điểm thành tích:
    125.887
    CẨM NANG VIẾT
    KHẢO LUẬN, LUẬN VĂN VÀ LUẬN ÁN

    Thích Nhật Từ
    CHƯƠNG IX
    BẢNG VIẾT TẮT (ABBREVIATIONS)

    I. CHỨC NĂNG CỦA BẢNG VIẾT TẮT

    1. Giúp người đọc truy cứu hay tham khảo các tài liệu được trích dẫn một cách chính xác và nhanh chóng.

    2. Làm cho phần trình bài của văn bản trở nên gọn gàng và thẩm mỹ hơn.

    3. Hỗ trợ và minh họa nguồn trích dẫn của các cước chú hay hậu chú trong một tác phẩm.

    II. PHẠM VI ỨNG DỤNG

    1. Trong các luận án, bảng viết tắt thường chỉ ứng dụng cho các tác phẩm thuộc tài liệu gốc (Primary sources), bách khoa, tạp chí nghiên cứu và những tác phẩm được trích dẫn nhiều lần trong tác phẩm.

    2. Trong các bách khoa và từ điển nói chung, bảng viết tắt còn ứng dụng cho các thuật ngữ, ngôn ngữ hay từ loại, tên các bộ môn cũng như nhân danh và địa danh.

    III. PHÂN LOẠI BẢNG VIẾT TẮT

    Có hai loại bảng viết tắt chính, đó là bảng viết tắt tên tác phẩm và bảng viết tắt thuật ngữ.

    a) Bảng viết tắt tên tác phẩm bao gồm các tác phẩm thuộc tài liệu gốc, tài liệu hai và tài liệu ba.

    b) Bảng viết tắt thuật ngữ bao gồm các thuật ngữ, tên ngôn ngữ, tên các từ loại, tên các bộ môn hay ngành học, nhân danh và địa danh.

    IV. TIÊU CHÍ VIẾT TẮT

    1. Tiêu Chí Chung

    — Chữ viết tắt thường là những ký tự ngắn gọn và gợi hình, để người đọc dễ nhớ và nhận dạng.

    — Biến các chữ cái đầu tiên của các từ trong thuật ngữ, cụm từ hay tên tác phẩm thành các ký tự viết tắt cho các thuật ngữ, cụm từ hay tên tác phẩm đó.

    — Không sử dụng dấu chấm câu ở chữ cuối cùng của các mục viết tắt.

    2. Đối với Tác Phẩm

    — Viết hoa và nghiêng các chữ cái đầu của các thực từ (tức không tính liên từ, giới từ và mạo từ) của tựa đề tác phẩm.

    — Trường hợp, các tác phẩm có các chữ cái của thực từ giống nhau, ta có thể viết thêm bằng chữ thường một hay vài mẫu tự kế của thực từ đầu tiên của tựa đề, để phân biệt chúng.

    — Trong phần ghi chú nội dung tựa đề tác phẩm được viết tắt, bạn phải đặt trong ngoặc đơn tên nhà xuất bản ngay sau tựa đề tác phẩm, để phân biệt các ấn bản khác nhau của cùng một tác phẩm. Hoặc bạn có thể ghi chú chi tiết về người biên tập/người xuất bản, nơi xuất bản, nhà xuất bản và năm xuất bản.

    — Không sử dụng dấu chấm câu ở chữ cuối cùng của các mục viết tắt.

    3. Đối với Thuật Ngữ

    Biến chữ cái đầu tiên của thuật ngữ, tên ngôn ngữ, tên các từ loại, tên các bộ môn hay ngành học, nhân danh và địa danh thành ký tự viết tắt cho các thuật ngữ đó.

    — Trường hợp, các thuật ngữ, tên ngôn ngữ, tên các từ loại, tên các bộ môn hay ngành học, nhân danh và địa danh có các chữ cái của thực từ giống nhau, ta có thể viết thêm bằng chữ thường một hay vài mẫu tự kế của thực từ đầu tiên của các thuật ngữ đó, để phân biệt chúng.

    — Không sử dụng dấu chấm câu ở chữ cuối cùng của các mục viết tắt.

    4. Ví Dụ

    ĐTác phẩm Aơguttara Nikya có thể được viết tắt bằng một trong các cách sau đây:

    A.: Aơguttaranikya, I-IV, ed. R. Morris, E. Hardy, C. A. F. Rhys Davids. (London: PTS, 1885-1910)

    A.: Aơguttaranikya (PTS)

    AN.: Aơguttaranikya, I-IV, ed. R. Morris, E. Hardy, C. A. F. Rhys Davids. (London: PTS, 1885-1910)

    AN.: Aơguttaranikya (PTS)

    ĐTên bộ môn chính trị có thể được viết tắt theo các cách sau đây:

    — chính.: chính trị học

    — ct.: chính trị học

    ĐTương tự, tên bộ môn ngôn ngữ học có thể được viết tắt theo các cách sau đây:

    — ngôn.: ngôn ngữ học

    — nnh.: ngôn ngữ học

    V. MỘT SỐ BẢNG VIẾT TẮT MẪU

    1. Bảng Viết Tắt các Chữ Sử Dụng trong Từ Điển Anh-Việt

    abbr abbreviation viết tắt

    adj adjective tính từ

    adv adverb trạng từ

    adv part adverbial particle tiểu trạng ngữ

    app appendix phụ lục

    approv approving chấp thuận

    arch archaic cổ xưa

    art article mạo từ

    attrib attributive thuộc ngữ

    aux auxiliary trợ động từ

    comb form combining form dạng phối hợp

    comp comparative so sánh

    conj conjunction liên từ

    def definite xác định, hạn định

    derog derogatory xúc phạm

    det determiner từ xác định

    emph emphatic nhấn mạnh

    esp especially nhất là, đặc biệt là

    euph euphemistic thuộc uyển ngữ

    fem feminine giống cái

    fig figurative nghĩa bóng

    fml formal nghi thức, trang trọng.

    idm idiom(s) thành ngữ

    illus illustration minh họa

    indef indefinite bất định

    infin infinitive vô định

    infml informal thân mật, không trang trọng

    interj interjection thán từ

    interrog interrogative nghi vấn

    joc jocular vui đùa

    masc masculine giống đực

    n noun danh từ

    neg negative phủ định

    pers person, personal ngôi, chỉ ngôi

    phr v phrasal verb(s) động từ nhóm

    pl plural số nhiều

    possess possessive sở hữu cách

    pp past participle phân từ quá khứ

    pred predicative (thuộc) vị ngữ

    pref prefix tiền tố, tiếp đầu ngữ

    prep preposition giới từ

    pres p present participle phân từ hiện tại

    pres t present tense thời hiện tại

    pron pronoun đại từ

    propr proprietary (thuộc) sỡ hữu

    pt past tense thời quá khứ

    reflex reflexive phản thân

    rel relative quan hệ

    rhet rhetorical (thuộc) tu từ học

    sb somebody người nào đó

    sing singular số ít

    sl slang tiếng lóng

    sth something cái gì đó, điều gì đó

    suff suffix tiếp vĩ ngữ, hậu tố

    superl superlative so sánh cao nhất

    usu usually thường thường

    v verb động từ

    2. Bảng Viết Tắt Tên Chuyên Ngành trong Từ Điển Tiếng Việt

    ââm âm nhạc

    chính chính trị

    cơ cơ khí, cơ giới

    dân dân tộc học

    dược dược học

    đại đại số học

    đạo đạo học

    địa địa lý

    điện điện học

    điêu điêu khắc

    động động vật học

    giải giải phẩu học

    giáo giáo dục học

    hải hàng hải

    hàng hàng không

    hóa hóa học

    hội hội họa

    khảo khảo cổ học

    khoáng khoáng vật học

    khẩu khẩu ngữ

    kiến kiến trúc

    kinh kinh tế học

    kỹ kỹ thuật

    luật luật học

    lý vật lý học

    luân luân lý học

    luận luận lý học

    mỹ mỹ thuật

    nông nông nghiệp

    ngoại ngoại giao

    ngôn ngôn ngữ học

    ngữ ngữ học

    nghệ nghệ thuật

    nhạc nhạc học, âm nhạc

    nhân nhân chủng học

    Phật Phật học

    quân quân sự; quân đội

    sinh sinh vật học

    sử sử học

    tài tài chính

    tâm tâm lý học

    toán toán học

    tôn tôn giáo học

    Thần Thần học

    thể thể thao

    thi thi học

    thiên thiên văn học

    thực thực vật học

    thương thương mại

    triết triết học

    văn văn học

    y y học

    xã xã hội học

    3) Bảng Viết Tắt Tên Ba Kho Tàng Kinh Điển Phật Giáo PLi và Các Ấn Bản Liên Hệ

    A. Aơguttara-Nikya, 5 vols., ed. R. Morris, E. Hardy, C. A. F. Rhys Davids. (London: PTS, 1885-1910).

    AA. Aơguttaranikya Aỉỉhakath, (Manorathap‰raÏ), 5 vols., ed. M. Walleser, H. Kopp, (London: PTS, 1924-56).

    Abhs. Abhidhammatthasaơgaha, ed. T. W. Rhys Davids, JPTS. (London: JPTS, 1884).

    AK. Abhidharmako±a and Bhãya, ed. S. D. Shastri. (Varanasi: Baudha Bharati, 1970); tr. by L. Poussin, 6 vols.

    Ap. Apadna, 2 vols., ed. M. E. Lilley. (London: PTS, 1925-27).

    ApA. Apadna Aỉỉhakath, ed. C. E. Godakumbura. (London: PTS, 1954).

    Asl. Aỉỉhasln ed. F. Mhller. (London: PTS, 1979).

    BuA. Buddhavaịsa Aỉỉhakath, ed. I. B. Horner. (London: PTS, 1946).

    Buv. Buddhavaịsa, ed. R. Morris (London: PTS, 1882) also by N. A. Jayawickrama. (London: PTS, 1974).

    Cp. Cariypiỉaka, ed. N. A. Jayawickrama. (London: PTS, 1974).

    Cv. Culavagga, PTS Edition.

    CvN. Cullavagga, Nalanda Edition. Reference is to page number.

    D. Dghanikya, I-III, ed. T. W. Rhys David and J. E. Carpenter, (London: PTS, 1890-1911).

    DA. Dghanikya Aỉỉhakath, I-III, ed. T. W. Rhys David and J. E. Carpenter, W. Stede. (London: PTS, 1886-1932).

    DB. Dialogues of the Buddha, 3 vols., tr. of the Dgha Nikya by T.W. and C.A.F. Rhys Davids. (London: PTS, 1992, 1st Ed. 1899); Part II, (London: PTS, 1989, 1st Ed. 1910); Part III, (London: PTS, 1995, 1st Ed. 1921).

    Dhk. Dhtukath with Commentary, ed. E. R. Gooneratne. (London: PTS, 1892)

    Dhp. Dhammapada, ed. K. R. Norman and O. von Hinuber. (London: PTS, 1931). Reference is to verse number.

    DhpA. Dhammapada Aỉỉhakath,5 vols., ed. H. Smith, H. C. Norman, L. S. Tailang. (London: PTS, 1906-15).

    Dhs. DhammasaơgaÏ, ed. E. Mhller. (London: PTS, 1885).

    DhsA. DhammasaơgaÏ Aỉỉhakath, ed. E. Mhller. (London: PTS, 1897).

    Dpv. Dpavaịsa, ed. H. Oldenberg. (London: PTS, 1879).

    Dukap. Dukapaỉỉhna, ed. Mrs. Rhys Davids. (London: PTS, 1906).

    Expos. The Expositors (PTS translation of the Atthaslin).

    GS. Gradual Sayings, 5 vols., (translation of the AÏguttara Nikya); vol. I-II, tr. by F.L. Woodward (London: PTS, 1989-92, 1st Ed. 1932-3); vol. III-V, tr. by E.M. Hare (London: PTS, 1988-94, 1st Ed. 1934-6).

    Hhv. Mahvaịsa, ed. W. Geiger. (London: PTS, 1908).

    Iti. Itivuttaka, ed. E. Windisch. (London: PTS, 1889). Reference is to verse number.

    ItiA. Itivuttaka Aỉỉhakath, 2 vols., ed. M. M. Bose. (PTS, 1934-36).

    J. Jtaka with Commentary, 6 vols., ed. V. Fausb`ll, (London: PTS, 1962).

    Khp. Khuddaka-pỉha, ed. Mrs. C.A.F. Rhys Davids. (London: PTS, 1931), tr. by Bhikkhu „Ïamoli, Minor Readings and Illustrator. (London: PTS, 1960).

    KhpA. Khuddakapỉha Aỉỉhakath, ed. H. Smith. (PTS, 1915).

    Ko±a Abhidharmako±a.

    KS Kindred Sayings (translation of the Saịyutta Nikya), vol. I-II, tr. by Mrs. Rhys Davids, Assisted by S‰riyago¯a Sumangala Thera and F.L. Woodward. (London: PTS, 1993-4, 1st Ed. 1917-22); vols. III-V, tr. by F.L. Woodward, ed. by Mrs. Rhys Davids. (London: PTS, 1992-4, 1st Ed. 1925-30).

    Kvu. Kathvatthu, 2 vols., ed. A. C. Taylor. (PTS, 1894-95).

    KvuA. KathvatthppakaraÏa Aỉỉhakath, ed. J. Minayeff, in JPTS. (London: JPTS, 1889).

    LDB. The Long Discourses of the Buddha, (Translation of the Dgha Nikya), by Maurice Walshe. (Boston: Wisdom Publications, 1995).

    M. Majjhimanikya, 4 vols., ed. V. Trenckner, R. Chalmers, Mrs. Rhys Davids. (London: PTS, 1888-1925).

    MA. Majjhimanikya Aỉỉhakath, 5 vols., ed. J. H. Woods, D. Kosambi, I. B. Horner. (London: PTS, 1922-38).

    Mhbv. Mahbodhivaịsa, ed. S. A. Strong. (London: PTS, 1891).

    Mhvu. Mahvastu, I-III, ed. E. Senart. (Paris: 1882-97).

    Milin. Milindapa–ha, ed. V. Trenckner. (London: PTS, 1962).

    MLS The Collection of the Middle Length Sayings, 3 vols., (translation of the Majjhima Nikya) by. I. B. Horner. (London: PTS, 1993-5, 1st Ed. 1954-9).

    MNPC The Minor Anthologies of the Pali Canon (PTS translation of the Khuddaka-Nikya).

    Mv. Mahvagga.

    MvN. Mahvagga, Nalanda Edition. ). Reference is to page number.

    Nc. Niddesa, Mah, 2 vols., ed. L. de la Vallée Pousin & E. J. Thomas. (London: PTS, 1918).

    Nett. Netti-pakaranaị, ed. E. Hardy. (London: PTS, 1902).

    Nm. Niddesa, Mah, 2 vols., ed. L. de la Vallée Pousin & E. J. Thomas. (London: PTS, 1916-7).

    PC. Points of Controversies, (Translation of the Kath-vatthu), tr. by S. Z. Aung & Mrs. C.A.F. Rhys Davids. (London: PTS, 1993, 1st Ed. 1915).

    Pet. Petavatthu, ed. N.A. Jayawickrama. (London: PTS, 1977).

    Ps. Paỉisambhidmagga, 2 vols., ed. A. C. Tylor. (London: PTS, 1905-07).

    Pug. Puggalapa––atti, ed. M. Morris. (London: PTS, 1883).

    PugA. Puggalapa––atti Aỉỉhakath, ed. G. Landsberg and Mrs Rhys Davids. (London: JPTS, 1913-14).

    S. Saịyuttanikya, 5 vols., ed. L. Féer and Mrs. Rhys Davids. (London: PTS, 1884-1904).

    SA. Saịyuttanikya Aỉỉhakath, 3 vols., ed. F.L. Woodward. (London: PTS, 1929-37).

    Sum. Vil. Sumaơgala Vilsin, i.e. Dghanikya Aỉỉhakath, see DA.

    SLJBS. Sri Lanka Journal of Buddhist Studies, ed. by Buddhist and Pali University of Sri Lanka.

    SLJH. Sri Lanka Journal of the Humanities.

    Sn. Suttanipta, ed. D. Andersen and H. Smith. (London: PTS, 1913). Reference is to verse number.

    SnA. Suttanipta Aỉỉhakath, ed. H. Smith. (London: PTS, 1916-18).

    Sns. Sµmityanikya-Ưstra (T 1649).

    Thg. Thergth, ed. R. Pischel. (London: PTS, 1883). Reference is to verse number.

    ThgA Thergth Aỉỉhakath, ed. M. Mhller. (PTS, 1893).

    Thag. Theragth, ed. H. Oldenberg. (London: PTS, 1883). Reference is to verse number.

    ThagA. Theragth Aỉỉhakath, I-III, ed. F. L. Woodward. (London: PTS, 1940-59).

    Ud. Udna, ed. P. Steinthal. (London: PTS, 1885). Reference is to verse number.

    UdA. Udna Aỉỉhakath, ed. F. L. Woodward. (London: PTS, 1926).

    Uv. Udnavarga, ed. N. P. Chakravarti. (Paris, 1930).

    Vbh. Vibhaơga, ed. Mrs. Rhys Davids. (London: PTS, 1904).

    VbhA. Vibhaơga Aỉỉhakath, ed. A. P. Buddhadatta. (London: PTS, 1923).

    Vim. Vimnavatthu, ed. N.A. Jayawickrama. (London: PTS, 1977).

    Vin. Vinayapiỉaka, 5 vols., ed. H. Oldenberg. (London: PTS, 1879-83).

    VinA. Vinayapiỉaka Aỉỉhakath, 7 vols., ed. J. Takakusu, M. Nagai. (London: PTS, 1924-47).

    Vism. Visuddhdimagga, ed. H. C. Warren and D. Kosambi. Harvard Oriental Series, 41. (1950)

    Yam. Yamaka, 2 vols., ed. Mrs. Rhys Davids. (London: PTS, 1911-13).

    YamA. YamakappaaraÏa Aỉỉhakath, ed. Mrs. Rhys Davids, JPTS. (London: JPTS, 1910-12).

    -oOo-
     
  10. admin

    admin Administrator Staff Member

    Tham gia :
    16/04/2018
    Bài viết:
    14.278
    Lượt thích:
    189
    Điểm thành tích:
    125.887
    CẨM NANG VIẾT
    KHẢO LUẬN, LUẬN VĂN VÀ LUẬN ÁN

    Thích Nhật Từ
    CHƯƠNG X
    THỦ TỤC TIẾN SĨ
    (Ph. D. FORMAL PROCEDURES)


    I. THỦ TỤC TIẾN SĨ LÀ GÌ?

    Thủ tục tiến sĩ là tất cả những qui định và qui trình hành chánh được áp dụng từ lúc nghiên cứu sinh bắt đầu đăng ký khóa học cho đến khi hoàn tất và nhận văn bằng tiến sĩ. Mỗi trường đại học thường có tập sách nhỏ qui định về điều khoản và luật lệ cho văn bằng tiến sĩ khác nhau (Regulations and Rules for the Degree of Doctor of Philosophy/Doctor of Literature/ Doctor of Civil Law). Là một nghiên cứu sinh tiến sĩ, bạn nên có tập sách này bằng cách mua hay xin ở văn phòng bộ môn (Department office) hay văn phòng khoa (Faculty office) thuộc trường đại học bạn đăng ký học.

    II. CÁC LOẠI VĂN BẰNG TIẾN SĨ

    Theo tác phẩm World Guide to Higher Education do Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục của Liên Hiệp Quốc[1] xuất bản năm 1996, hệ thống giáo dục đại học (higher education) trên thế giới có thể được chia thành ba giai đoạn chính, đó là cử nhân (BA/BSc), cao học (MA/MSc) và tiến sĩ triết học (Ph. D), mặc dù có vài nước chỉ chia thành hai giai đoạn như các nước nói tiếng Đức; trong khi các nước theo hệ thống giáo dục Anh chia thành năm giai đoạn, ngoài ba giai đoạn trên, còn có thêm giai đoạn Phó tiến sĩ (M.Phil) và Tiến sĩ văn học/Khoa học/Luật dân dụng, một loại văn bằng tiến sĩ cao hơn tiến sĩ triết học.[2] Như vậy, trên cơ bản có hai cấp văn bằng tiến sĩ, đó là tiến sĩ triết học và tiến sĩ cao hơn tiến sĩ triết học (higher/senior doctorate). Sau đây, chúng tôi xin giới thiệu sơ lược về hai cấp tiến sĩ này qua hệ thống giáo dục của các nước tiêu biểu hoặc các nước có nhiều ảnh hưởng đến nền giáo dục đại học trên thế giới, đó là Đức, Mỹ, Liên-xô và Anh.

    1. Bằng Tiến Sĩ theo Hệ Thống Đức, Dokto hay Promotion

    Tại Đức và tại các nước nói tiếng Đức, sau khi đậu các kỳ thi Staatsprufung (kỳ thi cuối khóa để được tuyển vào các nghề công chức như giáo viên, luật sư, do chính phủ tổ chức),[3] Diplom (bằng tốt nghiệp về khoa học, kỹ sư, kinh tế, khoa học xã hội) hay Magister (văn bằng về các môn thuộc nhân văn) loại I (tức rất giỏi), các sinh viên tại các trường đại học tổng hợp, đại học kỹ thuật, các cao đẳng sư phạm sẽ được tuyển vào khóa học tiến sĩ, doktor hay còn được gọi là promotion. Văn bằng tiến sĩ này sẽ cấp cho các luận án nghiên cứu độc lập, nguyên thủy từ hai đến năm năm và trải qua một kỳ thi bảo vệ luận án bằng thuyết trình.[4]

    2. Bằng Tiến Sĩ theo Hệ Thống Mỹ, Doctor of Philosophy

    Sau khi đậu hai giai đoạn cử nhân và cao học, sinh viên sẽ bước vào giai đoạn giáo dục đại học thứ ba là khóa học để được văn bằng tiến sĩ triết học về một lãnh vực nào đó (Doctor of Philosophy thường được viết tắt là D. Phil. hay Ph. D.). Đối với các ngành thuộc khoa học và nghệ thuật (Sciences and Arts) truyền thống, khóa học tiến sĩ triết học này kéo dài từ ba đến năm năm sau bằng cao học (master’s degree), một kỳ thi toàn diện (comprehensive examination) và nghiên cứu độc lập dẫn đến luận án và kỳ thi bảo vệ luận án đó. Cần nói rõ thêm rằng mặc dù văn bằng tốt nghiệp (graduate degrees) của y học (medicine), nha khoa (dentistry) và thú y (veterinary) cũng được viết là doctor’s degree, nhưng không được hiểu là bằng ‘tiến sĩ,’ mà chỉ là bằng bác sĩ (professional doctor’s degree), vì thực chất chúng chỉ là các văn bằng được cấp cho sinh viên đậu bốn năm học và thực tập tại các bệnh viện thuộc cấp cử nhân (bachelor’s degree). Đặc biệt, các bộ môn thuộc khoa học truyền thống còn có thêm các khóa học hậu tiến sĩ (post-doctorate studies) kéo dài từ một đến ba năm.[5] Như vậy, đối với hệ thống giáo dục Mỹ, bằng tiến sĩ triết học được xem là văn bằng học đường cao nhất, cấp cho sinh viên sau cao học hoàn tất công trình nghiên cứu độc lập.

    Ngoài ra, hệ thống Mỹ còn có những văn bằng tiến sĩ khác tương đương với bằng tiến sĩ triết học, như tiến sĩ giáo dục (Doctor of Education viết tắt là EdD), tiến sĩ nghệ thuật nhạc (Doctor of Musical Arts, viết tắt là DMA), tiến sĩ hành chánh kinh doanh (Doctor of Business Administration, viết tắt là DBA), tiến sĩ công trình (Doctor of Engineering, viết tắt là D.eng hay DES).[6]

    3. Bằng Tiến Sĩ theo Hệ Thống Liên-xô, Doktor Nauk

    Bằng tiến sĩ theo hệ thống giáo dục của Liên-xô là bằng tiến sĩ khoa học (Doktor nauk) mà tiếng Anh thường dịch là Doctor of Science. Đây là văn bằng học đường cao nhất.[7] Để có được văn bằng tiến sĩ khoa học, sinh viên phải trải qua các giai đoạn sau đây: bốn năm cử nhân (bachelor’s degree), hai năm cao học (master’s degree), hai năm nghiên cứu sau cử nhân (postgraduate studies), hai hoặc ba năm giảng viên (lecturer), ứng cử viên khoa học hay phó tiến sĩ (candidate of science tương đương với private docent và associate professor) và tiến sĩ khoa học (doctor of science).[8] Hệ thống giáo dục Liên-xô là hệ thống duy nhất có số năm học đường nhiều nhất để có được văn bằng tiến sĩ khoa học.

    4. Bằng Tiến Sĩ theo Hệ Thống Anh, Doctor of Philosophy Senior/Higher Doctorate

    Theo hệ thống giáo dục Anh, có hai loại văn bằng tiến sĩ, đó là văn bằng tiến sĩ triết học và tiến sĩ cao hơn tiến sĩ triết học (senior doctorate or higher doctorate).[9]

    Về bằng tiến sĩ triết học

    Sau khi đậu hạng tiên tiến khóa cao học triết học[10] về một môn nào đó (upper/high second class in M. Phil. với 55% điểm trở lên) hay đậu hạng giỏi khóa cao học văn khoa hay khoa học (first class in MA or MSc với 60% điểm trở lên), sinh viên có thể đăng ký học tiến sĩ triết học về một môn học nào đó (Doctor of Philosophy, viết tắt là D. Phil. hay Ph. D.).[11] Đối với khoa y, bằng tiến sĩ triết học này tương đương với bằng tiến sĩ dược (Doctor in Medicine, viết tắt là MD hay DM), tiến sĩ giải phẩu (Doctor in Surgery, viết tắt là ChM hay MCh).

    Về văn bằng tiến sĩ cao hơn văn bằng tiến sĩ triết học

    Có ba loại văn bằng tiến sĩ cao hơn văn bằng tiến sĩ triết học, đó là, tiến sĩ văn học (Doctor of Letters/Literature, viết tắt là D. Litt.), tiến sĩ khoa học (Doctor of Science, viết tắt là D. Sc.), tiến sĩ luật (Doctor of Laws, viết tắt là LLD). Điều kiện để trở thành nghiên cứu sinh của khóa học tiến sĩ này là đương sự trước nhất phải có một văn bằng tiến sĩ triết học về một môn học nào đó, và phải là giáo viên (lecturer) ít nhất hai năm của University hay College trực thuộc. Đối với một số trường đại học, một vị tiến sĩ triết học có tác phẩm đã xuất bản được học giới đánh giá cao, không cần là giáo viên cũng có thể được xét duyệt cho khóa học này. Sau đó, đương sự bắt đầu tiến hành viết đề cương luận án tiến sĩ văn học hay khoa học hay luật và phải hoàn tất luận án trong thời gian qui định, thường từ hai đến năm năm.

    Như vậy, trong hệ thống giáo dục đại học trên thế giới có hai cấp văn bằng tiến sĩ, đó là văn bằng tiến sĩ triết học và văn bằng tiến sĩ cao hơn tiến sĩ triết học. Bằng tiến sĩ triết học của hệ thống Mỹ và Anh tương đương với bằng tiến sĩ của Đức và tiến sĩ khoa học của Liên-xô XHCN. Ngoài ra, nó còn tương đương với văn bằng tiến sĩ y học, tiến sĩ giáo dục, tiến sĩ công trình, tiến sĩ hành chánh thương mại v.v.. Bằng tiến sĩ cao hơn tiến sĩ triết học là bằng tiến sĩ văn chương, tiến sĩ luật học, tiến sĩ khoa học (của hệ thống Anh, không phải hệ thống của Liên-xô). Bằng tiến sĩ cao hơn này tương đương với nghiên cứu hay văn bằng hậu tiến sĩ của hệ thống Mỹ, Liên-xô và một số nước trên thế giới như Pháp,[12] Trung Quốc[13] v.v.. .

    Khái niệm “tiến sĩ” mà chúng tôi sử dụng trong chương này nói riêng, trong tập sách này nói chung là từ gọi chung cho các văn bằng tiến sĩ (như của Đức) hay tiến sĩ triết học (như của Mỹ và Anh) hay tiến sĩ khoa học (như của Liên-xô XHCN), cho đơn giản trong khi viết. Tương tự, khái niệm cử nhân được hiểu chung cho cử nhân văn khoa hay khoa học; cao học được hiểu chung cho cao học văn khoa hay khoa học cho giản tiện.

    III. GHI DANH VÀO SỔ BỘ NGHIÊN CỨU SINH
    (ENROLMENT AND REGISTRATION)
    1.
    Điều Kiện Tuyển Sinh

    Ghi danh học tiến sĩ là khát vọng của rất nhiều người dấn thân vào con đường học vấn. Nhưng bất hạnh thay, không phải ai thích học cũng được chấp nhận cho ghi danh vào học khóa học này. Điều kiện tuyển sinh cho khóa học tiến sĩ tương đối gắt gao. Chỉ có ai đáp ứng được tiêu chuẩn về điểm hạng qui định của trường mới được ghi danh. Thông thường tiêu chuẩn này được qui định khác nhau tùy theo từng hệ thống giáo dục và của từng trường đại học.

    a) Theo hệ thống Anh

    Đối với các trường nổi tiếng, tiêu chuẩn tối thiểu để được ghi danh học tiến sĩ là đậu phó tiến sĩ loại tiên tiến (upper or high second class/division)[14] tức từ 55% điểm trở lên, hay chỉ cần đỗ cao học với loại giỏi (first class). Đối với các trường còn lại, chỉ cần đậu cao học với loại khá, tức 50% điểm (second class) là có thể ghi danh học tiến sĩ. Hiện nay còn rất ít các trường đại học theo hệ thống Anh có khóa học phó tiến sĩ. Đối với trường hay bộ môn có khóa học phó tiến sĩ thì tiêu chuẩn tuyển sinh tương đối cao hơn. Tiêu chuẩn tuyển thẳng lên khóa học tiến sĩ mà không phải trải qua phó tiến sĩ thường là đậu cao học loại giỏi, tức 60% trở lên. Trong các trường hợp đặc biệt, nếu nghiên cứu sinh là giáo viên của Universityhay College trực thuộc hay có công trình nghiên cứu có giá trị đã được xuất bản thì chỉ cần đậu tiên tiến khóa cao học cũng được tuyển thẳng vào khóa học tiến sĩ, đối với bộ môn hay trường có khóa học phó tiến sĩ.[15]

    b) Theo hệ thống Mỹ

    Tùy theo uy tín và tầm vóc, các trường đại học ở Mỹ và các trường theo hệ thống Mỹ có tiêu chuẩn tuyển sinh khác nhau. Thường thì, nghiên cứu sinh phải đỗ cao học loại xuất sắc mới được tuyển chọn vào khóa học tiến sĩ tại các trường đại học có uy tín. Tương tự, phải đỗ cao học loại giỏi mới được tuyển sinh cho khóa tiến sĩ tại các trường khá nổi tiếng. Đối với các trường không nổi tiếng lắm, hay các trường địa phương hoặc tư thục, tiêu chuẩn tuyển sinh có phần nhẹ và dễ dãi hơn.

    2. Ghi Danh vào Sổ Bộ Nghiên Cứu Sinh

    a) Theo hệ thống Anh

    Sau khi đáp ứng được tiêu chuẩn tuyển sinh, một số trường theo hệ thống Anh chấp nhận cho bạn nộp đơn song song với bản đề cương luận án tiến sĩ (synopsis hay research proposal).[16] Nếu đề cương tiến sĩ của bạn được hội đồng nghiên cứu của bộ môn và hội đồng nghiên cứu sinh của khoa chấp thuận thì bạn chính thức được ghi danh vào sổ bộ (registration). Một số trường khác cũng theo hệ thống Anh, trước nhất chỉ cho bạn ghi danh (enrolment) nghiên cứu sinh. Gần một năm kể từ ngày enrolment, bạn phải thuyết trình thành công đề cương nghiên cứu trước hội đồng bộ môn hay thi đậu khóa phương pháp luận. Sau đó, bạn mới được nộp đề cương nghiên cứu tiến sĩ. Chỉ khi đề cương nghiên cứu của bạn được hội đồng nghiên cứu sinh của khoa duyệt và chấp thuận, bạn mới chính thức được ghi danh trở thành nghiên cứu sinh tiến sĩ trong danh bạ của trường đại học (registration).

    b) Theo hệ thống Mỹ

    Sau khi đáp ứng được tiêu chuẩn tuyển sinh, bạn sẽ chính thức được ghi danh trong danh bạ tiến sĩ (registration). Trong năm đầu tiên, bạn phải trải qua các khóa học bắt buộc. Năm thứ hai, bạn phải thi đậu các học phần bắt buộc khác. Đầu năm thứ ba, bạn mới bắt đầu tiến hành phác thảo và nộp đề cương nghiên cứu (research proposal). Sau đó, tiến hành viết bản thảo.[17]

    IV. HỆ THỐNG THI CỬ CỦA KHÓA HỌC TIẾN SĨ[18]

    1. Hội Thảo trước khi Nộp Luận Án

    a) Dẫn nhập

    Thông thường, trước khi nộp luận án, nghiên cứu sinh phải thuyết trình đề tài của mình (pre-submission seminar) trước sự tham dự của các giáo sư thuộc bộ môn, các đồng nghiên cứu sinh và một số khách mời. Tại Việt Nam sau năm 1975, khái niệm này được biết đến qua tên gọi “bảo vệ luận án thử.”

    b) Chức năng

    Cuộc hội thảo trước khi nộp luận án hay bảo vệ luận án thử trở nên vô cùng quan trọng đối với nghiên cứu sinh về hai phương diện:

    — Cung cấp cho nghiên cứu sinh nhiều kinh nghiệm về kỹ năng thuyết trình và nghệ thuật bảo vệ luận án.

    — Nhờ sự góp ý và phê bình của ban giảng huấn cũng như thành phần tham dự nói chung, nghiên cứu sinh nhận chân rõ ràng đâu là điểm mạnh và khuyết điểm trong luận án của mình, để kịp thời hiệu đính hay bổ sung những điểm cần thiết; tỉnh lược hay bỏ đi những gì không cần thiết, trước khi nộp.

    2. Nộp Luận Án (Submitting the Thesis)

    a) Thời hạn

    Thời gian tối thiểu để nghiên cứu sinh được nộp luận án (submitting the thesis) là hai năm, kể từ ngày ghi danh vào sổ bộ nghiên cứu sinh (registration), theo một số trường thuộc hệ thống Anh và Mỹ. Có một số trường qui định ba năm; trong khi có một số trường khác qui định đến bốn năm.

    b) Yêu cầu

    — Luận án của bạn phải là một công trình nghiên cứu tiêu chuẩn về những khám phá, về phương diện trình bày, về phương pháp, về văn phong và về số trang.

    — Trước khi nộp luận án, nghiên cứu sinh phải thuyết trình đề tài nghiên cứu trong buổi hộïi thảo tại phòng hội thảo của bộ môn.

    — Nghiên cứu sinh nên thảo luận kỹ với giáo sư hướng dẫn về bản thảo cuối cùng và chỉ nộp khi giáo sư hướng dẫn đã hài lòng. Bằng không, bạn có thể gặp khó khăn trong hội thảo vì giáo sư hướng dẫn có thể, do bất đồng với bạn, không hỗ trợ hay bênh vực bạn khi bạn bị nạn vấn hay bắt bí.

    — Nghiên cứu sinh sẽ phải nộp tối thiểu năm bản luận án hoàn chỉnh cho văn phòng bộ môn. Ba bản sẽ được gởi đi chấm. Một bản đưa vào thư viện của trường và một bản lưu tại văn phòng bộ môn. Ngoài ra, bạn nên gởi tặng giáo sư hướng dẫn một bản và giáo sư trưởng bộ môn một bản.

    — Ngoài ra, nghiên cứu sinh cũng phải nộp cho văn phòng bộ môn bản tóm tắt luận án khoảng 300Đ600 chữ. Bản tóm tắt này sẽ được gởi đến giám khảo song song với luận án để giám khảo nắm được phương pháp, các điểm chính và đóng góp của luận án.

    3. Hội Đồng Giám Khảo (Examiner Committee)

    a) Bổ nhiệm giám khảo

    Ngay sau khi nghiên cứu sinh nộp luận án cho văn phòng bộ môn, giáo sư trưởng bộ môn sẽ chuyển luận án đó đến văn phòng của người quản thủ danh bạ của trường (registrar) hay người kiểm quản thi cử của trường (controller of examinations) hay văn phòng nghiên cứu sinh của khoa (office of Board of research studies), tùy theo hệ thống hành chánh của từng trường đại học. Luận án của bạn sẽ được gởi đến ba vị giám khảo, theo danh sách đề nghị của giáo sư trưởng bộ môn và giáo sư hướng dẫn.

    b) Số lượng giám khảo

    Ban giám khảo thông thường bao gồm ba vị, hai vị thuộc ngoài trường đại học của nghiên cứu sinh (external examiners) và vị còn lại thuộc trong trường đại học của nghiên cứu sinh (internal examiner). Vị thuộc trường đại học đó có thể là giáo sư hướng dẫn của nghiên cứu sinh, nếu trong trường không có giáo sư nào chuyên về đề tài nghiên cứu đó. Trong trường hợp này, giáo sư hướng dẫn phải được giáo sư trưởng bộ môn đề nghị bằng văn bản và phải được hội đồng nghiên cứu tiến sĩ của khoa (Board of Research Studies) chấp thuận.

    4. Bảo Vệ Luận Aùn (Defence of the Thesis)

    a) Dẫn nhập

    Giai đoạn cuối cùng của luận án tiến sĩ là bảo vệ luận án (defence of the thesis) theo dụng ngữ của hệ thống Mỹ và Liên-xô, mà tiếng Anh thường gọi là the viva-voce hay the viva hay the oral examination. Thực ra, bảo vệ luận án là cuộc thi bằng thuyết trình về những gì đã được nghiên cứu sinh viết trong luận án của mình.

    b) Mục đích

    Mục đích của bảo vệ luận án này nhằm kiểm tra những kiến thức cũng như những đóng góp trong luận án có thực sự là của chính nghiên cứu sinh viết ra hay do người nào khác viết dùm. Kế đến, nó nhằm kiểm tra khả năng bảo vệ về phương pháp nghiên cứu, các khám phá và đóng góp và những giải thích của nghiên cứu sinh. Ngoài ra, đó còn là điều kiện bắt buộc rằng nghiên cứu sinh không chỉ viết tốt mà còn thuyết trình tốt nữa. Đây là các yêu cầu cần và đủ của kỳ thi bảo vệ luận án tiến sĩ.

    c) Điều kiện và thời điểm

    Buổi thuyết trình hay bảo vệ luận án chỉ được tiến hành khi đã có ít nhất hai bản phúc trình của hai người chấm đồng ý và đề nghị cấp văn bằng tiến sĩ cho nghiên cứu sinh. Thông thường, luận án được gởi đến ba người chấm (examiners), trong đó, chỉ có một người thuộc trong trường hay viện nơi nghiên cứu sinh tiến hành viết luận án (internal examiner), và hai người chấm còn lại thuộc ngoài viện trường (external examiners), để tính khách quan được cao và tránh khỏi những sắp xếp mang tính đút lót, hối lộ người chấm.

    Sau khi nhận được hai bản phúc trình đồng ý (approval), giáo sư trưởng bộ môn hay phân khoa (Head of Department) sẽ sắp xếp và công bố thời gian bảo vệ.

    d) Đối tượng tham dự

    Thông thường, đối tượng tham dự cuộc thi bảo vệ luận án chỉ giới hạn trong phạm vi của bộ môn, bao gồm giáo sư chủ khảo (thường là một trong hai vị chấm văn bản luận án ngoài trường), người chấm văn bản luận án trong trường viện (internal examiner), giáo sư trưởng bộ môn (Head of Department), giáo sư khoa trưởng (Dean of Faculty, thỉnh thoảng), ban giảng huấn của bộ môn (Academic or Department Staff), các nghiên cứu sinh cùng bộ môn (Research fellow hay Doctoral candidates) và một số bạn bè, thân hữu. Một số trường nổi tiếng ở Mỹ và Liên-xô thường công bố ngày bảo vệ luận án tiến sĩ một cách rộng rãi, do đó, số người tham dự có thể rất đông.

    e) Kết Quả Thi Cử (The Results of the Examination)

    Tùy theo khả năng bảo vệ của nghiên cứu sinh về những gì được trình bày trong luận án, kết quả của thi cử có thể rơi vào một trong bốn tình huống, đó là, thất bại hoàn toàn, không viết lại nhưng phải thuyết trình lại, thành công nhưng phải sửa chữa chút đỉnh và thành công trọn vẹn.

    (1) Cuộc bảo vệ hay thuyết trình của nghiên cứu sinh không thành công. Nghiên cứu sinh buộc phải hiệu đính hay bổ sung một số vấn đề hay về phương pháp nghiên cứu. Trong trường hợp này, nghiên cứu sinh phải sửa hay bổ sung theo đề nghị của giáo sư chủ khảo. Sau đó, nộp và có thể bảo vệ lại lần thứ hai. Về thủ tục, mỗi trường thường có những qui định riêng. Do đó, tốt nhất nghiên cứu sinh nên theo những qui định riêng này.

    (2) Cuộc bảo vệ luận án của nghiên cứu sinh không làm thỏa mãn giáo sư chủ khảo như những gì đã được trình bày trong luận án. Nghĩa là giáo sư chủ khảo chỉ hài lòng với nội dung luận án nhưng nghi ngờ về khả năng viết của nghiên cứu sinh. Trong trường hợp này, nghiên cứu sinh phải bảo vệ hay thuyết trình lại trong vòng một tháng cho đến một năm, tùy theo sự sắp xếp của giáo sư trưởng bộ môn, giáo sư hướng dẫn và nghiên cứu sinh. Bạn không thể có được cơ hội trình bày lần thứ tư (một số trường chỉ cho phép bạn trình bày tối đa là lần thứ hai thôi), nếu như lần bảo vệ lần thứ hai và thứ ba không thành công. Trong trường hợp này, nghiên cứu sinh được xem như bị rớt, và tối đa, nghiên cứu sinh chỉ được cấp văn bằng phó tiến sĩ (M. Phil.), theo hệ thống Anh, thay vì bằng tiến sĩ. Cách phát văn bằng giống như trường hợp thứ tư.

    (3) Nghiên cứu sinh bảo vệ thành công luận án nhưng phải sửa chữa hay bổ sung một vài điểm nhỏ trong luận án. Trong trường hợp này, nghiên cứu sinh không phải bảo vệ lại mà chỉ hiệu đính sao cho hài lòng giáo sư hướng dẫn và giáo sư chấm thuộc trường viện thôi. Cách phát văn bằng cũng giống như trường hợp thứ tư dưới đây.

    (4) Cuộc bảo vệ hay thuyết trình của nghiên cứu sinh thành công hoàn toàn. Sẽ có hai trường hợp xảy ra, tùy theo hệ thống giáo dục của trường mà nghiên cứu sinh theo học. Đối với các trường theo hệ thống giáo dục Mỹ và Liên-xô, văn bằng tiến sĩ sẽ được trao tận tay cho nhà nghiên cứu ngay sau khi buổi bảo vệ luận án kết thúc. Đối với các trường theo hệ thống giáo dục Anh, nghiên cứu sinh chỉ được công bố đã đậu tiến sĩ bằng tờ xác nhận đậu tiến sĩ tạm thời (provisional certificate) và phải chờ đến ngày cấp phát văn bằng tập thể (Convocation) để lãnh văn bằng tiến sĩ.

    5. Các Chuẩn Bị Cần Thiết

    Để bài thuyết trình của bạn trở nên ấn tượng cũng như các câu trả lời của bạn đi vào trọng tâm và gây sự chú ý, bạn nên chuẩn bị kỹ lưỡng các điều sau đây.

    a) Những vật dụng cần mang theo

    — Quyển luận án hoàn chỉnh.

    — Bản tóm tắt luận án.

    — Danh sách câu hỏi và trả lời giả định.

    — Các ghi chú cần thiết.

    — Sổ tay ghi chú các câu hỏi.

    — Máy cassette nhỏ, vài cuồn băng cassette 90 phút, 4-8 cục pin dự trữ, để thâu buổi thuyết trình hay bảo vệ luận án.

    — Các hình ảnh, dụng cụ, sách vở v.v.. . minh họa, nếu cần thiết.

    b) Bản tóm tắt luận án[19]

    Bản tóm tắt luận án phải được viết bằng một văn phong cô đọng, ngắn gọn và rõ ràng về tầm quan trọng của đề tài nghiên cứu và về những đóng góp riêng của luận án. Mỗi đóng góp riêng của luận án thường được trình bày bằng một đoạn độc lập với sự hỗ trợ của các luận điểm có hệ thống và logic.

    c) Danh sách câu hỏi và trả lời giả định

    Nghiên cứu sinh nên hình dung, giả định và phác thảo trước danh sách các câu hỏi có thể được hỏi về đề tài nghiên cứu của mình. Sau đó, nghiên cứu sinh làm bản danh sách các câu trả lời mẫu tương ứng với các câu hỏi. Câu trả lời mẫu sẽ giúp cho nghiên cứu sinh có thể trả lời tự tin, chính xác và gây ấn tượng ban giám khảo với một giọng văn điêu luyện và văn chương. Muốn vậy, nghiên cứu sinh phải trau chuốt câu trả lời mẫu và thực tập nhiều lần cho đến khi nhuần nhuyễn, để trả lời thật tự nhiên.

    d) Các ghi chú cần thiết

    — Các đoạn nguyên tác quan trọng để minh họa khi cần thiết.

    — Các nhận định thật hay của các tác giả khác, để minh họa khi cần thiết.

    — Các ghi chú liên hệ trực tiếp hay gián tiếp đến luận án có thể được thảo luận trong lúc thuyết trình hay bảo vệ luận án.

    6. Các Câu Hỏi thường Gặp trong Thuyết Trình và Bảo Vệ Luận Án

    Sau đây là danh sách các câu hỏi mà các giáo sư chấm luận án thường đặt ra cho nghiên cứu sinh. Các câu hỏi có thể được chia thành năm nhóm chính.

    a) Các câu hỏi về lý do và mục đích

    — Tại sao bạn chọn đề tài này?

    — Các vấn đề hay các trị số trong đề tài có hỗ trợ nhau không?

    — Tại sao không chọn vấn đề A, B, C trong đề tài của bạn?

    — Đề tài này có thích ứng với xã hội hiện đại không?

    — Tầm quan trọng của đề tài này ở chỗ nào? hay

    — Hãy cho biết tầm quan trọng của đề tài.

    b) Các câu hỏi về nội dung

    — Hãy cho chúng tôi biết về luận án của bạn.

    — Hãy trình bày tóm lược các đóng góp của luận án của bạn.

    — Hãy trình bày các thành tựu trong luận án của bạn.

    — Hãy trình bày những điểm mạnh hay đặc biệt trong luận án của bạn.

    — Hãy trình bày những gì bạn đạt được trong suốt quá trình nghiên cứu luận án.

    c) Các câu hỏi về phương pháp

    — Tại sao bạn chọn phương pháp nghiên cứu này?

    — Hãy cho biết chức năng và tính hiệu quả của phương pháp này.

    — Tại sao bạn không đồng tình với phương pháp A của các tác giả B, C, D ?

    — Bạn có nghĩ rằng phương pháp này không thích hợp cho đề tài của bạn không?

    — Ngoài phương pháp đã chọn ra, bạn có nghĩ rằng ít nhất còn có phương pháp khác cũng thích hợp hay thích hợp hơn không?

    — Nếu bạn phải chọn phương pháp A chẳng hạn thì vấn đề nghiên cứu của bạn sẽ như thế nào?

    d) Các câu hỏi chi tiết hay chuyên sâu về đề tài

    — Hãy trình bày một cách chi tiết về khái niệm hay ý tưởng bạn vừa trình bày.

    — Hãy nói rõ hơn về điểm hay vấn đề A mà bạn vừa trình bày.

    — Bạn có thể cho biết về sự khác nhau giữa khái niệm hay học thuyết A và B vừa trình bày.

    — Đâu là điểm trọng tâm của khái niệm hay học thuyết A?

    — Hãy trình bày nội dung của vấn đề A.

    e) Các câu hỏi về đề nghị nghiên cứu về sau

    — Hãy cho biết những điểm mà bạn chưa đề cập trong luận án của bạn?

    — Nếu phải nghiên cứu thêm về đề tài, bạn sẽ chọn vấn đề gì và tại sao?

    — Bạn có đề nghị gì cho các nghiên cứu về sau không?

    — Nếu có cơ hội ứng dụng, bạn sẽ làm gì với những học thuyết được trình bày trong luận án?

    — Hiệu quả của vấn đề sẽ như thế nào, nếu học thuyết của bạn được ứng dụng?

    — Hãy cho biết giá trị của luận án của bạn về phương diện ứng dụng và thực hành.

    7. Tiêu Chí Trả Lời các Nạn Vấn trong Thuyết Trình và Bảo Vệ Luận Án

    — Tranh thủ những lời chào hỏi chân tình, lễ độ trước khi trả lời câu hỏi đầu tiên của giám khảo.

    — Phải bình tĩnh, tự tin trong khi trả lời.

    — Luôn thể hiện thái độ hoan hỷ, cởi mở và sẵn sàng đón nhận các câu hỏi.

    — Chân thành trong kiến thức và trả lời.

    — Tuyệt đối tránh thể hiện thái độ ta đây là giỏi, nghiên cứu của ta là ghê gớm, chê bai các tác giả trước là không ra chi hay tỏ ý khinh thường giám khảo và người tham dự.

    — Câu trả lời của bạn nên rõ ràng, chính xác, cô đọng và gây ấn tượng.

    — Cái gì không biết thì nên khiêm tốn trả lời là không biết: đừng qua mặt người chấm hay múa riều qua mắt các chuyên gia.

    — Nếu câu hỏi không được rõ ràng thì bạn có thể diễn đạt lại câu hỏi rồi hỏi lại xem có đúng ý người hỏi không, hay bạn có thể yêu cầu người hỏi trình bày rõ ràng hơn.

    — Trường hợp gặp những câu hỏi mang tính đả phá, phủ bác, nạn vấn hay đánh đổ, bạn phải thật sự bình tĩnh, không nên thể hiện thái độ bực tức hay giận dữ và khéo trả lời để làm hài lòng người nạn vấn.

    — Nếu quan điểm của bạn khác với giám khảo, bạn phải dùng lời lẽ khiêm tốn để thuyết phục. Không nên chọc giận giám khảo, khi giám khảo bảo thủ quan điểm của ông/bà.

    — Đừng để cho những bất đồng giữa người chấm và bạn trở thành trở ngại cho bạn, vì giám khảo có quyền tuyệt đối.

    — Trước khi chấm dứt, nghiên cứu sinh tranh thủ tỏ lời cám ơn chân thành đến ban giám khảo, giáo sư hướng dẫn, các thầy cô giáo trong bộ môn, các giáo sư, giảng viên và những người đến dự.

    [1] UNESCO., World Guide to Higher Education: a Comparative Survey of Systems, Degrees and Qualifications. (France: UNESCO, 1996), pp. xvii-xix.

    [2] Ibid., p. 519.

    [3] Tác giả chân thành cảm ơn thầy Hạnh Tấn đã giúp tác giả hiểu rõ phần này.

    [4] UNESCO., Op. Cit., pp. 191-2, 194.

    [5] Ibid., pp. 530-1.

    [6] Ibid., p. 534.

    [7] Ibid., p. 425.

    [8] Ibid., p. 422.

    [9] Ibid., p. 521-2.

    [10] Tức Master of Philosophy Course, khóa học giữa cao học và tiến sĩ triết học, mà tại Việt Nam thường gọi là phó tiến sĩ.

    [11] UNESCO., op. cit., p. 519.

    [12] Ibid,. p. 175.

    [13] Ibid., p. 101.

    [14] E. M. Phillips and D. S. Pugh., Op. Cit., p. 121.

    [15] Xem chi tiết các qui định này ở quyển “Extracts from Ordinance VI-B and Rules & Regulations Relating to the Degree of Doctor of philosophy, University of Delhi,” pp. 2 and 14.

    [16] Về chi tiết của đề cương nghiên cứu luận án tiến sĩ, xem chương “Đề cương luận án và bản tóm tắt luận án.”

    [17] E. M. Phillips and D. S. Pugh., op. cit., pp. 147-8.

    [18] Ở đây chúng tôi chỉ giới thiệu về thủ tục tiến sĩ triết học (của hệ thống Mỹ và Anh) hay tiến sĩ (của hệ thống Đức) hay tiến sĩ khoa học (của hệ thốntg Liên-xô XHCN).

    [19] Xem chi tiết của phần II của chương “Đề cương luận án và bản tóm tắt luận án.”
     
  11. admin

    admin Administrator Staff Member

    Tham gia :
    16/04/2018
    Bài viết:
    14.278
    Lượt thích:
    189
    Điểm thành tích:
    125.887
    CẨM NANG VIẾT
    KHẢO LUẬN, LUẬN VĂN VÀ LUẬN ÁN

    Thích Nhật Từ
    CHƯƠNG XI
    BIÊN TẬP VÀ ĐÁNH GIÁ BẢN THẢO
    (EDITING AND EVALUATING THE FINAL DRAFT)


    I. BIÊN TẬP BẢN THẢO

    Trước khi đánh máy bản thảo hoàn chỉnh của bài khảo cứu hay luận văn, luận án, người nghiên cứu phải biên tập nó một cách kỹ lưỡng. Người nghiên cứu phải có trách nhiệm trong việc đảm bảo tác phẩm của mình không có lỗi chính tả và văn phạm. Chính tả của những từ ngữ khó và gây tranh luận nên được dựa theo các từ điển tiêu chuẩn và có thẩm quyền. Phép chấm câu, viết hoa, sử dụng các dấu câu và phép viết tắt phải theo tiêu chuẩn quốc tế.

    Tốt nhất, bạn nên kiểm tra và biên tập lại bản thảo cuối cùng về các phương diện như cách trình bày tiêu đề (heading), các tiêu đề phụ (sub-heading), trích dẫn (quotation), cước chú (footnote) hay hậu chú (endnote), các bảng biểu (table), hình ảnh minh họa (illustration), phụ chú (appendice), bảng chú thích thuật ngữ (glossary), thư mục tham khảo (bibliography) và bảng chú dẫn mục từ (index).

    Sau đây là danh sách của các bảng kiểm tra cần thiết cho công việc biên tập thành phẩm nghiên cứu:

    DANH SÁCH KIỂM TRA VỀ CÁCH TRÌNH BÀY
    1) Bài khảo luận hay luận án có bao gồm đủ ba phần:

    — phần dẫn nhập không?

    — phần văn bản hay nội dung không?

    — và phần tham khảo không?

    2) Phần dẫn nhập có trình bày đúng:

    — thứ tự không?

    — phong cách không?

    3) Trang tựa đề có đủ:

    — tựa đề của bài khảo cứu hay luận án không?

    — tên của tác giả không?

    — tên của khóa học, bộ môn, khoa không?

    — tên trường viện không?

    — ngày nộp hay trình không?

    — cấp văn bằng của luận văn hay luận án không?

    4) Bảng mục lục có đủ:

    — lời cảm ơn không?

    — lời nói đầu không?

    — danh sách các bảng biểu không?

    — hình ảnh minh hoạ không?

    — phụ chú không?

    — bảng giải thích thuật ngữ không?

    — sách tham khảo không?

    — bảng chú dẫn mục từ không?

    5) Nội dung phần văn bản chính có:

    — bố cục chặt chẽ, logic và tương ứng với các tiêu đề trong bảng mục lục không?

    — bố cục của các tiêu đề phụ có tương ứng với các tiêu đề phụ trong bảng mục lục không?

    — cấu trúc mạch lạc và logic giữa chương dẫn nhập, các chương nội dung và chương kết luận không?

    6) Tài liệu tham khảo có được:

    — phân chia thành các phần mục chính có thích hợp không?

    — tái phân chia, nếu cần, trong phần thư mục tham khảo không?

    — tiêu đề, nếu cần?

    7) Có đáp ứng đúng các yêu cầu của trường về:

    — số bản nộp không?

    — cách trình bày bìa không?

    — phong chữ và co chữ trình bày không?

    — cách đóng bìa không?

    — màu của bìa không?

    DANH SÁCH KIỂM TRA CÁC TIÊU ĐỀ CHÍNH VÀ PHỤ
    1) Các tiêu đề chính và phụ có thích ứng toàn bộ tác phẩm không?

    2) Số của các chương có:

    — nằm ở giữa hay đầu các trang không?

    — viết bằng chữ in hay hoa các chữ cái đầu không?

    — được đánh bằng số la-mã không?

    3) Tiêu đề của các chương có:

    — nằm ở giữa các trang không?

    — viết bằng chữ in hoa không?

    4) Các tiêu đề đầu lề trái (side headings) có:

    — bằng với đầu lề trái không?

    — in đậm hay gạch dưới không?

    — viết bằng chữ thường, ngoại trừ chữ đầu câu không?

    — cách văn bản khoảng 3 hàng đơn không?

    5) Các tiêu đề đoạn có:

    — thụt vào đầu dòng như phong cách đoạn không?

    — in đậm hay gạch dưới không?

    — viết bằng chữ thường, ngoại trừ chữ đầu câu không?

    — kết thúc bằng một dấu chấm không? (nếu có thì bỏ đi).

    — cách văn bảng khoảng 2 hàng đơn không?

    DANH SÁCH KIỂM TRA PHẦN TRÍCH DẪN
    1) Nguyên văn đoạn trích có được kiểm tra chính xác về:

    — chính tả không?

    — chấm câu không?

    — viết hoa không?

    — trật tự của từ không?

    2) Nội dung của đoạn trích có:

    — đi vào chủ đề không?

    — ấn tượng người đọc không?

    — làm tăng giá trị của luận chứng nó minh họa không?

    — làm nền tảng cho thảo luận hay phân tích, phê bình không?

    3) Các đoạn trích có được trình bày:

    — hàng đơn hay bằng phông chữ nhỏ hơn cho các đoạn trích không?

    — vào đầu dòng và không đánh dấu ngoặc kép cho toàn đoạn trích dài hơn 4 hàng không?

    4) Các trích dẫn có:

    — thích ứng với những gì chúng dự định minh họa không?

    — mô tả hay giới thiệu một cách thích hợp không?

    5) Khi đoạn trích dẫn được thêm thắt thì phần thêm vào này có được bỏ vào trong ngoặc vuông không [ ]?

    6) Khi đoạn trích dẫn bị tỉnh lược thì phần bị tỉnh lược này có được ký hiệu bằng dấu ba chấm không ...?

    DANH SÁCH KIỂM TRA CƯỚC CHÚ HAY HẬU CHÚ
    1) Các cước chú hay hậu chú có:

    — đánh giá hay làm nổi bật được vấn đề nó giải thích không?

    — bày tỏ lòng biết ơn với các nguồn thông tin không?

    — kích thích cho người thích tìm tòi đào sâu vào điểm minh chứng đó không?

    — cung cấp hệ tham khảo chéo có giá trị không?

    — cho biết trích dẫn là trực tiếp hay gián tiếp không?

    2) Các cước chú hay hậu chú có bao gồm:

    — tên tác giả không?

    — tựa đề tác phẩm không?

    — nơi XB, nhà XB và năm XB không?

    — số trang trích dẫn không?

    — nội dung trích dẫn không?

    3) Vị trí của cước chú hay hậu chú có được đặt ở:

    — cuối mỗi trang giấy không?

    — cuối mỗi chương, cuối mỗi bài viết không?

    — sau chương cuối của toàn tác phẩm không?

    4) Các cước chú hay hậu chú có vận dụng phép tỉnh lược để tránh phần trùng lập và dài dòng bằng cách sử dụng các ký hiệu tắt như:

    ibid. không?

    op. cit. không?

    loc. cit. không?

    5) Số của các cước chú hay hậu chú có phải:

    — số á-rập không?

    — viết bằng co chữ nhỏ hơn văn bản không?

    — không có chấm câu không?

    6) Đối với tác giả người Aâu Mỹ, tên họ ông/bà có được xếp theo thứ tự Họ + Tên + Chữ lót không?

    7) Đối với tác giả người Việt Nam, tên họ ông/bà có được xếp theo thứ tự Họ + Chữ lót + Tên không?

    8) Đối với tác giả người Trung Quốc, tên họ ông/bà có được xếp theo thứ tự Họ, Chữ lót-tên không?

    9) Mỗi cước chú hay hậu chú có kết thúc bằng một dấu chấm không?

    10) Phần cước chú có tách biệt với phần văn bản chính không?

    11) Các cước chú hay hậu chú có được trình bày bằng hàng đơn không và khoảng cách giữa các cước chú hay hậu chú là hàng đôi không?

    12) Nếu cước chú nào dài hơn 1 trang thì nên đưa vào phần văn bản chính. Nếu dài hơn 2 trang thì nên đưa vào phần phụ lục.

    13) Tiêu đề của hậu chú từng chương có phải là “CHÚ THÍCH” hay “CHÚ THÍCH VÀ THAM KHẢO” không?

    DANH SÁCH KIỂM TRA BẢNG

    1) Bảng biểu đó có xác đáng và cần thiết không?

    2) Các dữ liệu của chúng có được kiểm tra kỹ lưỡng chưa?

    3) Bảng biểu đó có được trình bày ngay bên dưới đoạn nội dung chúng minh họa không?

    4) Bảng biểu đó nên đưa vào ngay văn bản hay để vào phần phụ chú?

    5) Các bảng biểu được đánh số đúng thứ tự không?

    6) Các chi tiết cần và đủ có hội đủ trong bảng biểu không?

    7) Lời chú thích bảng có đầy đủ và rõ ràng không?

    8) Từ ngữ của lời chú thích có thích ứng với nội dung cần minh chứng không?

    9) Bảng biểu có trình bày đúng phong cách không?

    10) Bảng biểu có ghi chi tiết số liệu đo lường không?

    11) Các chữ viết tắt có được giải thích trong bảng không?

    12) Các tiêu đề trong từng ô của bảng có trình bày đúng cách và tương ứng về nội dung không?

    13) Các qui định về bảng biểu tiếp theo có được tuân thủ không?

    14) Bảng biểu có được đặt đúng vị trí trong trang hay không?

    15) Số trang có được nêu ra không?

    16) Các cước chú có được sử dụng tương thích hay không?

    DANH SÁCH KIỂM TRA HÌNH MINH HỌA

    1) Hình minh họa có thật sự đóng góp cho phần trình bày không?

    2) Các chi tiết có được kiểm tra chính xác không?

    3) Hình minh họa có theo sau đoạn chúng cần minh họa không?

    4) Hình minh họa được đánh số theo thứ tự không?

    5) Hình minh họa có tự giải thích chính nó hay không?

    6) Lời giải thích hình có đủ chi tiết và rõ ràng không?

    7) Từ ngữ của lời giải thích có thích ứng với phần minh họa không?

    8) Chiều dọc và chiều ngang của hình có được giải thích đầy đủ không?

    9) Các đơn vị đo lường có được ghi chú kỹ lưỡng không?

    10) Các chữ viết tắt có được giải thích trong hình ảnh không?

    11) Hình minh họa có dễ xem hay không?

    12) Hình minh họa có được đặt đúng vị trí trong trang không?

    13) Số trang có được nêu ra không?

    DANH SÁCH KIỂM TRA THƯ MỤC THAM KHẢO

    1) Tiêu đề thư mục tham khảo có được đặt:

    — giữa trang đầu của phần này (phần thư mục tham khảo) bằng chữ in hoa không?

    — cách đầu trang khoảng 3 cm không?

    — không có dấu chấm câu hay gạch dưới không?

    2) Có đánh số trang của thư mục tham khảo không?

    3) Các tác phẩm được trích dẫn trong sách có nằm trong thư mục tham khảo không?

    4) Các qui định về thứ tự tên tác giả và biên niên kỷ của tác phẩm có được tuân thủ không?

    5) Có trình bày đúng phong cách cho từng loại hình tham khảo không?

    6) Mỗi mục tham khảo có bao gồm đủ các chi tiết sau đây không:

    — tên tác giả?

    — tựa đề tác phẩm?

    — nơi XB, nhà XB và năm XB?

    — người biên tập, người dịch, người xuất bản, nếu có?

    — số trang giới hạn đối với tạp chí và bách khoa?

    7) Tạp chí và bách khoa có bao gồm đủ các chi tiết sau đây không:

    — tên tác giả?

    — tựa đề bài viết?

    — tên người biên tập?

    — tựa đề tạp chí hay bách khoa?

    — số tập?

    — nơi XB, nhà XB và năm XB?

    — số trang giới hạn?

    8) Các qui định về viết hoa, viết nghiêng và chấm phết có được tuân thủ không?

    9) Thư mục tham khảo có được đặt trước hay sau phần phụ chú hay không?

    DANH SÁCH KIỂM TRA PHẦN PHỤ CHÚ

    1) Co chữ của phần phụ chú có nhỏ hơn phần văn bản chính không?

    2) Xem có phần nào của luận án cần đưa vào phần phụ chú không?

    3) Phần phụ chú có thừa hay cần thiết cho tác phẩm không?

    4) Phần phụ chú có liên hệ hay minh chứng một điểm nào đó trong luận án không?

    5) Tài liệu sống có được đưa vào phần phụ chú không?

    6) Các bản công cụ góp nhặt tài liệu (dạng thống kê / phỏng vấn) có đưa vào phần phụ chú không?

    7) Các ghi chú kỹ thuật và giải thích về tiến trình thực nghiệm có đưa vào phần phụ chú không?

    8) Tính chính xác của phần phụ chú đã được kiểm chứng kỹ lưỡng không?

    9) Các chi tiết cần thiết của phần phụ chú có hội đủ khômg?

    10) Phần phụ chú có dễ đọc hay không?

    11) Mỗi phần phụ chú có được trình bày ở các trang độc lập không?

    12) Tiêu đề của các phụ chú có tương ứng với tiêu đề được nêu trong bảng mục lục không?

    13) Tiêu đề phần phụ chú có được ngay giữa trang bằng chữ in-hoa-đậm và không có dấu chấm không?

    14) Các trang của phần phụ chú có được đánh số trang không?

    DANH SÁCH KIỂM TRA BẢNG GIẢI THÍCH THUẬT NGỮ

    1) Bảng giải thích thuật ngữ thuộc bảng tổng quát hay phân theo loại ngôn ngữ và nhân địa danh?

    2) Kiểm tra xem tất cả các từ hay thuật ngữ quan trọng có được đưa vào bảng giải thích thuật ngữ chưa?

    3) Các mục từ của nó có theo thứ tự bảng chữ cái tiếng Việt không?

    4) Các thuật ngữ tiếng nước ngoài và tựa đề các tác phẩm có được viết nghiêng không?

    5) Có chua xuất xứ của ngôn ngữ gốc trong ngoặc đơn ngay sau thuật ngữ tiếng nước ngoài không?

    6) Kiểm tra xem các mục từ có được viết bằng chữ thường, ngoại trừ nhân danh, địa danh và tên tác phẩm, không?

    DANH SÁCH KIỂM TRA BẢNG CHÚ DẪN MỤC TỪ
    1) Các mục từ được sắp theo thứ tự bảng mẫu tự tiếng Việt không?

    2) Kiểm tra trật tự và cách ngắt câu của các tiêu đề chính và phụ của từng mục từ theo phong cách hoặc xuống dòng sau mỗi tiêu đề phụ hoặc trình bày liên tục?

    3) Số trang của các mục từ có tương ứng với số trang trong văn bản không?

    4) Các tham khảo chéo của các mục từ có tương ứng với số trang chúng nêu ra không?

    5) Các mục từ có được viết bằng chữ thường, ngoài trừ nhân danh, địa danh và tên tác phẩm, không?

    6) Nhân danh, địa danh và tên tác phẩm có được viết bằng chữ hoa hay không?

    7) Chính tả của các mục từ có chính xác không?

    8) Có mục từ nào thiếu số trang tham khảo không?

    II. ĐÁNH GIÁ BẢN THẢO

    Trong quá trình viết và hiệu đính lại bản thảo của bài khảo cứu, luận văn hay luận án, điều cần thiết nhất là khảo cứu tác phẩm một cách phê bình và công tâm, để tránh tất cả những sơ suất do thái độ chủ quan và thiếu cẩn thận gây ra. Người biên tập phải đặt mình trong vai trò của người đọc khó tánh chứ không phải là người viết, nhằm phát hiện tất cả những lỗi còn sót để sửa chữa cho hoàn hảo. Sau đây chúng tôi xin nêu ra hai danh sách cung cấp tiêu chí đánh giá bản thảo. Danh sách thứ nhất ứng dụng cho các nghiên cứu thuộc kinh nghiệm hay thực nghiệm và danh sách thứ hai thuộc nghiên cứu phân tích hay phê bình văn học. Mặc dù không thể có tiêu chí chung để đánh giá các nghiên cứu khác nhau nhưng hai danh sách này có thể được sử dụng để tham khảo trong việc đánh giá một cách khách quan và đúng tiêu chuẩn.

    A. DANH SÁCH KIỂM TRA VỀ ĐÁNH GIÁ CÁC NGHIÊN CỨU THUỘC THỰC NGHIỆM[1]

    1. Vấn Đề

    — Vấn đề có trình bày một cách rõ ràng không?

    — Vấn đề có ý nghĩa không?

    — Kết quả của vấn đề có đóng góp gì cho các giải pháp thuộc các vấn đề lý thuyết hay thực nghiệm không?

    — Các giả thuyết (hypotheses) có được trình bày rõ ràng không?

    — Các giả thuyết có được bắt nguồn từ các học thuyết hay vấn đề nào không?

    — Mối tương quan giữa chúng và các nghiên cứu trước đây có được trình bày rõ ràng không?

    2. Thiết Kế của Nghiên Cứu (Design)

    — Các giả định (assumptions) của nghiên cứu có được trình bày rõ ràng không?

    — Giới hạn nghiên cứu có nêu ra không?

    — Các thuật ngữ quan trọng trong nghiên cứu có được định nghĩa không?

    — Thiết kế của nghiên cứu có được mô tả đầy đủ không?

    — Thiết kế của nghiên cứu có thích hợp hay không?

    — Dân số, tỷ lệ và mẫu có được mô tả không?

    — Phương pháp làm mẫu có thích ứng không?

    — Phương pháp khắc phục có được mô tả và thích ứng không?

    — Thiết kế của nghiên cứu có rơi vào lỗi sở đoản nào hay không?

    3. Tiến Trình

    — Phương pháp thu thập dữ liệu có được trình bày không?

    — Phương pháp thu thập dữ liệu có thích hợp không?

    — Phương pháp thu thập dữ liệu có được sử dụng đúng cách không?

    — Tính giá trị và độ tin cậy của bằng chứng có được hình thành không?

    4. Phân Tích

    — Phương pháp phân tích có thích ứng và được ứng dụng triệt để không?

    — Kết quả của phân tích có được trình bày rõ ràng không?

    5. Kết Luận

    — Kết luận có được nêu ra rõ ràng không?

    — Kết luận có được các luận chứng và bằng chứng hỗ trợ không?

    — Các khái quát có giới hạn vào dân số và tỷ lệ không?

    — Phúc trình có được tổ chức một cách logic và viết rõ ràng không?

    — Phong cách của phúc trình có vô tư và khoa học không?

    B. DANH SÁCH KIỂM TRA VỀ ĐÁNH GIÁ CÁC NGHIÊN CỨU THUỘC PHÂN TÍCH HAY PHÊ BÌNH VĂN HỌC[2]

    1. Mục Đích

    — Xác định mục đích nghiên cứu a b c d e

    — Đóng góp của nghiên cứu a b c d e

    — Mô tả bối cảnh của nghiên cứu a b c d e

    — Đánh giá các nghiên cứu trước

    về lãnh vực a b c d e

    2. Tiến Trình

    — Xác định các giả định nền tảng a b c d e

    — Xác định giới hạn nghiên cứu a b c d e

    — Định nghĩa các thuật ngữ quan trọng a b c d e

    — Phương pháp xác định nguồn tài liệu a b c d e

    — Chọn lọc tài liệu a b c d e

    — Chất lượng của tài liệu a b c d e

    — Phân loại tài liệu a b c d e

    — Hình thành độ tin cậy của tài liệu a b c d e

    3. Phân Tích

    — Phân tích dữ kiện a b c d e

    — Đánh giá tài liệu a b c d e

    — Logic của luận điểm a b c d e

    — Mạch lạc trong giải thích a b c d e

    4. Kết Luận

    — nêu lên các khám phá và đóng góp a b c d e

    — Các cơ sở hỗ trợ kết luận a b c d e

    — Kết cấu logic của bản phúc trình a b c d e

    — Chất lượng viết và diễn đạt a b c d e

    Ghi chú về các chữ viết tắt

    a: không thể chấp nhận

    b: dở.

    c: tạm được.

    d: tốt.

    e: tuyệt hảo.

    III. ĐỌC BẢN THẢO ĐÃ ĐÁNH MÁY

    Sau khi đã đánh máy bản thảo, bạn nên đọc lại một vài lần bản thảo đã đánh máy ấy, để tránh tất cả những lỗi về chính tả và văn phạm. Một tác phẩm hay công trình nghiên cứu có giá trị mà để vi phạm những lỗi chánh tả và văn phạm sẽ làm người đọc nghi ngờ hay mất đi niềm tin về chất lượng của nó.

    Để công việc đọc lại bản thảo đạt hiệu quả cao nhất, thông thường tác giả nên đọc lại một lần, kiểm tra lại số trang của bảng mục lục, danh sách bảng minh họa, hình minh họa và sửa những gì cần thiết trước khi nhờ thư ký riêng hay bạn bè hoặc những người dò bản thảo chuyên nghiệp đọc và dò lại lần cuối. Sở dĩ phải nhờ người khác đọc là vì, như một thói quen, tác giả có khuynh hướng đọc văn bản của mình viết bằng ký ức hơn là bằng mắt và do đó, dù văn bản có sai chính tả và thiếu chữ thì tác giả vẫn đọc đúng và đọc đầy đủ. Trong khi đó, nếu người đọc không phải là tác giả của nó thì các lỗi này có thể được phát hiện dễ dàng và sửa chữa kịp thời.

    [1] Trích và dịch từ J. Anderson et al. op. cit., pp. 118-9.

    [2] Ibid., pp. 120-1.
     
  12. admin

    admin Administrator Staff Member

    Tham gia :
    16/04/2018
    Bài viết:
    14.278
    Lượt thích:
    189
    Điểm thành tích:
    125.887
    CẨM NANG VIẾT
    KHẢO LUẬN, LUẬN VĂN VÀ LUẬN ÁN

    Thích Nhật Từ


    SÁCH THAM KHẢO

    Allen, George R., Graduate Students’ Guide to Theses and Dissertations. (San Francisco: Jossey-Bass, 1974)

    Altick, R. D., The Art of Literary Research. (Now York: Norton, 1975)

    Anderson, Janathan et al., Thesis and Assignment Writing. (Delhi: Wiley Eastern Pvt. Ltd., 1971)

    Berry, R., How to Write a Research Paper. (London: Pergamon Press, 1966)

    Burlingame, Roger., Inventors Behind the Inventor. (New York: 1947)

    Butcher, Judith., Copy-EditingĐThe Cambridge Handbook for Editors, Authors and Publishers. (Cambridge: Cambridge University Press, 1992)

    Cole, Arthur H. & Bigelow, Karl W., A Manual of Thesis Writing. (New York: John Wiley & Sons, 1935)

    Crawford, C. C., The Technique of Research in Education. (Boston: Houghton Mifflin Company, 1928)

    Das, S. K., An Introduction to Research. (Calcutta, Delhi: A. Mukherjee & Co. Pvt. Ltd., 1986)

    Fly, Ron., How to Take NotesĐHow to Take Effective, Exam-Perfect Notes. (Delhi: 1996)

    Hillway, Tyrus., Introduction to Research. (Boston: Houghton Mifflin Company, 1956)

    Kaula, P. N., Library Science Today. (New York: Asia Publishing House, 1962)

    Kumar, P. S. G., Practical Guide to DDC 20. (Nagbur: Dattsons, 1990)

    Mahadevan, T. M. P., On Thesis Writing. (Centre of Advanced Study in Philosophy, University of Madras, 1968)

    Manhas, B. S., Guidelines for Preparation of Ph.D./M.Phil. Thesis/Dissertation. (Patiala: Panjabi University, 1995)

    Parsons, C. J., Thesis and Project Work. (London: George Allen and Unwin, 1973)

    Phillips, Estelle M. and Pugh, D. S., How to Get a Ph. D.: a Handbook for Students and Their Supervisors. (Delhi: UBSPD, 1996)

    Raj, Hans., Theory and Practice in Social Research. (Delhi: Surjeet Publications, 1981)

    Ramachadra,T. P.,The Method of Research in Philosophy. (Madrass: Radhakrishnan Institute for Advanced Study in Philosophy, University of Madras, 1984)

    Roth, A. J., The Research Paper: Form and Content. (Belmont: Wadsworth Publishing Company, Inc., 1971)

    Sehgal, R. L., An Introduction to Universal Decimal Classification. (Delhi: Ess Ess Publications, 1994)

    Sharma, Ram Sarup. (ed.) Bibliography and Documentation. (Patiala: Madan Publishers, 1974)

    The Oxford Advanced Learner’s Dictionary of Current English. (London: Oxford University Press, 1980)

    Turabian, Kate L., A Manual for Writers of Term Papers, Theses and Dissertations. (Chicago: University of Chicago Press, 1973)

    UNESCO. (ed.) World Guide to Higher Education: a Comparative Survey of Systems, Degrees and Qualifications. (France: UNESCO, 1996)

    Wali, M. L and Baba, A. M., Manual of Library Classification Practice for Dewey Decimal and Colon Classification Schemes. (Srinagar: 1982)

    Whitney, Frederick L., The Elements of Research. (Englewood Cliffs, N. J.: Prentice-Hall, Inc., 1958)
     

Chia sẻ trang này