Milan Kundera

Tin đăng trong 'Tác giả | Authors' bởi admin, Cập nhật cuối: 13/10/2018.

  1. admin

    admin Administrator Staff Member

    Tham gia :
    16/04/2018
    Bài viết:
    14.278
    Lượt thích:
    189
    Điểm thành tích:
    125.887
    [​IMG]

    Milan Kundera (thường được phiên âm Việt hóa là Mi-lan Kun-đê-ra, sinh ngày 1 tháng 4 năm 1929 tại Brno, Tiệp Khắc) là một nhà văn Tiệp Khắc, hiện mang quốc tịch Pháp. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là tiểu thuyết Đời nhẹ khôn kham.

    Mục lục
    • 1Tiểu sử
    • 2Sự nghiệp sáng tác
    • 3Giải thưởng
    • 4Tác phẩm
    • 5Các bản dịch tiếng Việt
    • 6Tham khảo
    Tiểu sử
    Ông sinh ra trong một gia đình trí thức trung lưu, cha là Ludvik Kundera (1891-1971). Ludvik Kundera là học trò của nhà soạn nhạc Séc Leoš Janáček, hiệu trưởng Học viện Âm nhạc Janáček tại Brno từ năm 1948 đến 1961. Cha Kundera là người thầy dạy đàn piano đầu tiên của ông. Sau này Kundera cũng theo học nhạc lý. Tham khảo và ảnh hưởng âm nhạc có thể tìm thấy trong các tác phẩm của ông, thậm chí ông còn đưa các nốt nhạc vào giữa các trang viết của mình.

    Ông tốt nghiệp trung học tại Brno năm 1948. Sau đó ông theo học văn học và mỹ học tại Khoa Nghệ thuật tại Đại học Karlova ở Praha, nhưng chỉ sau hai học kỳ, ông chuyển sang Khoa Điện ảnh tại Học viện Nghệ thuật biểu diễn Praha, ban đầu ông đăng ký học đạo diễn và viết kịch. Năm 1950 ông bị buộc dừng học vì các lý do chính trị. Sau khi tốt nghiệp vào năm 1952, ông được bổ nhiệm làm giảng viên văn học thế giới tại Khoa Điện ảnh. Kundera thuộc về thế hệ những người Séc mà tuổi trẻ không được trải qua nền cộng hòa trước thế chiến. Ý thức hệ của họ bị ảnh hưởng nặng bởi Chiến tranh thế giới thứ hai và tình trạng quân Đức chiếm đóng. Vì vậy, năm 1948, khi còn rất trẻ, ông tham gia thành lập Đảng Cộng sản Tiệp Khắc. Năm 1950, ông và nhà văn Jan Trefulka bị khai trừ khỏi đảng vì lý do "chống đảng". Trefulka miêu tả sự kiện này qua tiểu thuyết Pršelo jim štěstí (1962) của ông; Kundera thì dùng sự kiện này như nguồn cảm hứng cho chủ đề chính tiểu thuyết Žert(Lời đùa cợt) ông viết năm 1967. Ông được tái kết nạp vào đảng năm 1956 và lại bị khai trừ năm 1970. Kundera cùng nhiều nghệ sĩ, trí thức Séc bị lôi cuốn vào sự kiện Mùa xuân Praha 1968 – giai đoạn cải cách chính trị ngắn ngủi bị đè bẹp bởi cuộc xâm lăng của Xô Viết vào tháng 8 năm 1968. Đây là thời điểm ông rút lui hoàn toàn khỏi đời sống văn hóa Séc.

    Ông định cư ở Pháp từ năm 1975 và trở thành công dân Pháp từ năm 1981.

    Sự nghiệp sáng tác
    Trong Žert (Lời đùa cợt - 1967), tiểu thuyết đầu tay, Kundera mang đến một cái nhìn châm biếm về tính chất toàn trị của chủ nghĩa cộng sản. Và cũng bởi những phê phán của ông đối với chế độ Xô Viết và sự xâm lăng đất nước ông của họ năm 1968, Kundera đã bị đưa vào sổ đen và tác phẩm bị cấm lưu hành chỉ một thời gian ngắn sau khi Liên Xô chiếm đóng Tiệp Khắc. Năm 1975, Kundera di tản sang Pháp, sau đó ông viết Kniha smíchu a zapomnění (Sách cười và lãng quên - 1979), cuốn tiểu thuyết mô tả những công dân Séc đối phó với chế độ Xô Viết bằng nhiều cách khác nhau. Cuốn sách là sự kết hợp khác lạ của tiểu thuyết, các truyện ngắn và những suy tư tán rộng của tác giả. Đó là tác phẩm thiết lập thời kỳ hậu lưu vong của tác giả.

    Năm 1984, ông xuất bản Nesnesitelná lehkost bytí (bản dịch tiếng Việt: Đời nhẹ khôn kham), tác phẩm nổi tiếng nhất. Ở tiểu thuyết này tác giả suy tư về sự mong manh của kiếp người, ai cũng chỉ sống cuộc đời mình một lần duy nhất và cũng có thể là đã chẳng sống tí nào. Ở đây không có chỗ cho sự lặp lại, kinh nghiệm, thử nghiệm và sai lầm. Năm 1988, đạo diễn người Mỹ Philip Kaufman làm bộ phim cùng tên với kịch bản chuyển thể từ tác phẩm này, bộ phim này (The Unbearable Lightness of Being) không mấy thành công. Kundera cực kỳ thất vọng về bộ phim và sau đó ông không cho phép chuyển thể bất kỳ tiểu thuyết nào của ông nữa[cần dẫn nguồn]. Năm 1990, Kundera xuất bản Nesmrtelnost (Sự bất tử), đây là tiểu thuyết cuối cùng ông viết bằng tiếng Séc, mang tinh thần thế giới và suy tư triết học dày đặc (và ít tính chính trị) hơn các tác phẩm khác. Đây cũng được xem là tác phẩm đánh dấu giai đoạn cuối cùng trong hành trình sáng tạo của tác giả.

    Kundera luôn nhấn mạnh con người tác giả của mình với tư cách là một nhà tiểu thuyết, không phải là nhà văn phản kháng hay nhà hoạt động chính trị. Bình luận chính trị đã dần biến mất trong tác phẩm của ông (đặc biệt từ Sách cười và lãng quên). Phong cách tiểu thuyết của Kundera chủ yếu ảnh hưởng bởi các tiểu thuyết của Robert Musil và văn xuôi của Friedrich Nietzsche. Nguồn cảm hứng của Kundera không chỉ đến từ thời kỳ Phục hưng với François Rabelais và Giovanni Boccaccio, mà còn cả từ Laurence Sterne, Henry Fielding, Denis Diderot, Robert Musil, Witold Gombrowicz, Hermann Broch, Franz Kafka và Martin Heidegger. Ông còn tán rộng suy tư nhiều về chủ đề âm nhạc, phân tích dân ca Séc, trích dẫn từ Béla Bartók đến Leoš Janáček. Theo hướng này, xa hơn nữa, Kundera còn trích cả nốt nhạc xen giữa văn bản tiểu thuyết (ví dụ trong Lời đùa cợt), hoặc tranh luận về Arnold Schoenberg và hệ 12 âm.

    Ở giai đoạn đầu, ông viết bằng tiếng Séc. Từ năm 1993, ông viết tiểu thuyết bằng tiếng Pháp. Từ 1985 đến 1987, ông xem lại và sửa cùng dịch giả bản tiếng Pháp các tác phẩm giai đoạn đầu của mình. Kết quả là tất cả các bản dịch tiếng Pháp các tác phẩm của ông đều có chứng nhận chất lượng của chính tác giả.

    Giải thưởng
    • 1973: Giải Médicis cho tiểu thuyết nước ngoài
    • Năm 1985 ông nhận giải Jerusalem. Bài diễn văn nhận giải này của ông được in trong cuốn tiểu luận L'art du Roman (Nghệ thuật tiểu thuyết).
    • Năm 1987 ông được trao Giải quốc gia Áo cho Văn học châu Âu. Cũng có những tin đồn ông được đề cử giải Nobel văn học.
    • 1993: Giải Thời nay
    • 2001: Giải thưởng lớn Văn học của Viện Hàn lâm Pháp
    Tác phẩm
    • Žert (Lời đùa cợt - 1967)
    • Směšné lásky (Những mối tình nực cười - 1968)
    • Život je jinde (Cuộc sống không ở đây - 1969)
    • Jakub a jeho pán: Pocta Denisu Diderotovi (Jacques và người thầy - 1975)
    • Valčík na rozloučenou (Điệu valse giã từ - 1976)
    • Kniha smíchu a zapomnění (Sách cười và lãng quên - 1979)
    • Nesnesitelná lehkost bytí (Đời nhẹ khôn kham - 1984)
    • L'art du roman (Nghệ thuật tiểu thuyết - 1985)
    • Nesmrtelnost (Sự bất tử - 1990)
    • Les testaments trahis (Những di chúc bị phản bội - 1992)
    • La Lenteur (Chậm rãi - 1993)
    • L'Identité (Bản nguyên - 1998)
    • L'Ignorance (Vô tri - 2000)
    • Le Rideau (Bức màn - 2005)
    Các bản dịch tiếng Việt[sửa | sửa mã nguồn]
    • Sự bất tử, Ngân Xuyên giới thiệu và dịch, tạp chí Văn học nước ngoài số 1-1996.
    • Nghệ thuật tiểu thuyết, Nguyên Ngọc dịch, Nhà xuất bản Đà Nẵng, 1998
    • Sự bất tử. Chậm rãi. Bản nguyên, Ngân Xuyên dịch (từ tiếng Nga và tiếng Pháp), lời bạt của Nguyên Ngọc, Nhà xuất bản Văn học và Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 1999
    • Tiểu luận, Nguyên Ngọc dịch, Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin và Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2001 (gồm "Nghệ thuật tiểu thuyết" và "Những di chúc bị phản bội")
    • Đời nhẹ khôn kham, Trịnh Y Thư dịch, 2002
    • Cuộc sống không ở đây, Cao Việt Dũng dịch, Hà Nội:Nhà xuất bản Văn hóa Thông tin và Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2003 (phụ lục: Francois Ricard, "Cách nhìn nhận của quỷ Satan")
    • Điệu valse giã từ, Cao Việt Dũng dịch từ bản tiếng Pháp của Francois Kerel, Hà Nội:Nhà xuất bản Hội Nhà Văn và Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2004
    • Những mối tình nực cười, Cao Việt Dũng dịch, Hà Nội:Công ty Nhã Nam và Nhà xuất bản Văn học, 2009.
    • Vô tri, Cao Việt Dũng dịch, Hà Nội:Công ty Nhã Nam và Nhà xuất bản Văn học, 2010.
     
    Đang tải...
  2. admin

    admin Administrator Staff Member

    Tham gia :
    16/04/2018
    Bài viết:
    14.278
    Lượt thích:
    189
    Điểm thành tích:
    125.887
    bst milan kundera.jpg

    Bộ sưu tập các tác phẩm milan kundera tại Việt Nam (ảnh fb)
     
  3. admin

    admin Administrator Staff Member

    Tham gia :
    16/04/2018
    Bài viết:
    14.278
    Lượt thích:
    189
    Điểm thành tích:
    125.887
    Milan Kundera là một trường hợp vô cùng đặc biệt của văn học thế giới. Các sáng tác của ông như một bản giao hưởng, ở đó có những yêu cầu khắt khe về thang âm, cấu trúc nhưng lại tạo ra một làn điệu tổng thể mềm mại và đậm tính cá nhân.

    Milan Kundera sinh ngày 1/4/1929 tại Brno, một thành phố tỉnh lẻ của Czechoslovakia (nay là CH Czech).

    Nỗi lòng người tha hương
    Cha đẻ ông là học trò của nhà soạn nhạc thiên tài Leoš Janáček. Cha cũng chính là người dạy đàn piano cho ông. Cho tới năm 25 tuổi, âm nhạc cuốn hút ông nhiều hơn là tiểu thuyết. Về sau, âm nhạc có sức ảnh hưởng lớn tới sáng tác văn học của ông, không chỉ thông qua những tiểu luận xuất sắc về âm nhạc, mà còn tạo ra kết cấu và tính đa âm, như một bản giao hưởng trong những tiểu thuyết có một không hai của Kundera.
    Cuốn tiểu thuyết đầu tay của ông, mang tên Lời đùa cợt, ra mắt vào năm 1967. Vì lý do chính trị, cuốn sách từng bị cấm xuất bản tại Czechoslovakia và khiến cái tên Kundera bị liệt vào danh sách đen. Từ năm 1975, ông sống lưu vong tại Pháp và trở thành công dân Pháp vào năm 1981.
    [​IMG]
    Milan Kundera luôn đưa tới cho người đọc những góc nhìn sắc sảo và mới lạ

    Milan Kundera là một trong những tiểu thuyết gia hàng đầu của văn học hậu hiện đại phương Tây. Ngoài ra, ông còn rất nổi bật với những tiểu luận sâu và rộng. Ông có bảy cuốn sách viết bằng ngôn ngữ Czech, đều đã được dịch sang tiếng Pháp.
    Các tác phẩm sau của ông đều được viết bằng tiếng Pháp. Ông cũng xem xét lại toàn bộ các bản dịch tiếng Pháp và coi phiên bản này là dịch chuẩn tác phẩm của mình. Vì thế, ông luôn đề nghị các dịch giả thế giới dùng bản tiếng Pháp để dịch tác phẩm.
    Theo ông, tiếng mẹ đẻ khiến sự viết của ông bột phát hơn; trong khi với tiếng Pháp, ông phải thận trọng, suy tư nhiều hơn. Nhưng dù dùng ngôn ngữ nào, thì với Milan Kundera, nỗi lòng ông vẫn hướng về đất mẹ.
    Khao khát đi tìm cái tôi trong mỗi nhân vật
    Thật vậy, cảm thức lưu vong là điều lặp đi lặp lại trong các tiểu thuyết của Kundera. Tuy nhiên, với ông, nó không có ý nghĩa về mặt chính trị. Ông nói rằng: “Tiểu thuyết gia không phải là người hầu của những sử gia”. Bối cảnh lịch sử chỉ là cái nền để từ đó tìm ra cái tôi trong nhân vật.
    Đọc tiểu thuyết của Kundera, sẽ không thấy những gồng mình to tát, nhưng dư âm lại là một cảm giác nặng nề vô cùng. Đây chính là cái được gọi là "Đời nhẹ khôn kham", theo tên cuốn tiểu thuyết thành công nhất của ông. Trong đó, cuộc đời con người hiện lên như một kiếp phù du nhẹ bỗng. Để rồi cuối con đường, khi nhìn lại, sự tồn tại trống rỗng, vô nghĩa trên cõi đời khiến ta thấy nặng trĩu.
    “Raskolnikov đã chịu đựng tội ác của mình như một bi kịch và cuối cùng quỵ xuống dưới sức nặng hành vi của mình. Còn Jakub thì ngạc nhiên thấy sao hành vi của mình lại nhẹ bỗng đến vậy, nó chẳng đè nặng lên anh, nó chẳng kéo anh xuống chút nào hết. Và anh tự hỏi phải chăng cái nhẹ bỗng kia còn khủng khiếp hơn cả những tình cảm cuồng loạn của nhân vật Nga nọ”. (trích Điệu Van giã từ).
    Kundera cho rằng cái “nhẹ bỗng”, thiếu vắng cái tôi kia, là bởi chúng ta ngày càng bị quyết định bởi ngoại cảnh, bởi những tình thế không ai có thể tránh thoát được, và ngày càng khiến chúng ta giống nhau hơn.
    Với quan điểm “hiểu biết là đạo đức duy nhất của tiểu thuyết”, Kundera khao khát tìm ra cái tôi, dù là nhỏ nhất, trong các nhân vật của của mình. Cách khám phá của ông thường là đi vào thế giới nội tâm của nhân vật. Tuy vậy, Kundera nói rõ: “Các tiểu thuyết của tôi không phải là tiểu thuyết tâm lý”. Ông không có nhu cầu phân tích diễn biến nội tâm mà chỉ muốn tinh lược ra những suy nghĩ bộc lộ rõ cái tôi cá nhân không giống ai của mỗi nhân vật.
















    Sự theo đuổi cái tôi khiến tiểu thuyết của ông có phần khô khan, khác lạ. Có những nhân vật không hề có quá khứ, nhân dạng, thậm chí tên tuổi; bởi những thứ đó không liên quan tới cái tôi. Cái tôi cũng được nhấn nhá thông qua “nghệ thuật tiểu thuyết” rất đặc biệt của ông.
    Có thể nói, các tiểu thuyết của Kundera đều hướng tới con người, với mong muốn bảo vệ con người trước những xô đẩy của thế giới xung quanh và trước cả bản năng khiếp nhược trong mỗi người.
    Mang nhạc vào văn, viết văn như soạn nhạc
    Trái với sự “nhẹ bỗng” trong tiểu thuyết của mình, những tiểu luận của Kundera độc đáo và đa dạng. Chúng cho thấy trí tuệ uyên bác của ông trong rất nhiều lĩnh vực: âm nhạc, hội họa, văn học, triết học, cuộc đời…
    Là một người khó tính trong viết lách, không chấp nhận những thứ tạp nham bình bình, trong các tiểu luận của mình, ông luôn đưa tới cho người đọc những góc nhìn sắc sảo và mới lạ. Đọc tiểu luận của Kundera rất mệt bởi một khối lượng lớn những kiến thức chuyên sâu ở phạm vi rộng; được cô đọng, móc nối với nhau.
    Trong đó, đối tượng đáng chú ý nhất là tiểu thuyết. Tiểu luận Nghệ thuật tiểu thuyết của Kundera, phát hành năm 1985, đã gây tiếng vang lớn trong văn đàn. Không chỉ đưa ra những kiến giải cá nhân về nghệ thuật viết tiểu thuyết nói chung, ông còn làm sáng tỏ quan điểm mỹ học và hiện sinh của mình.
    Với tình yêu âm nhạc sâu sắc từ nhỏ, Kundera đã biến tiểu thuyết của mình thành một bản giao hưởng. Ảnh hưởng này bộc lộ từ những chi tiết nhỏ nhất như tên nhân vật được đặt theo ký hiệu nốt nhạc cho đến khung kết cấu của toàn tiểu thuyết.
    Các sáng tác của ông thường có bảy phần (như bảy nốt nhạc), được gắn mã tempo (nhịp độ) như khoan thai, vừa phải, nhanh, cực nhanh…Thường thì ông lấy chương 4 làm chương chủ đề. Vậy nên, khi đọc Kundera, sẽ thấy có những chương dài chậm chạp, lại có những chương ngắn vội vàng, như giai điệu âm nhạc vậy.
    Sau 14 năm ấp ủ, vào năm 2014, ở tuổi 85, Kundera ra mắt cuốn tiểu thuyết thứ 10 của mình mang tên Lễ hội của vô nghĩa. Cuốn sách nhỏ với kết cấu 7 chương như bản giao hưởng được coi là tinh hoa sáng tác của Kundera. Ở Lễ hội của vô nghĩa có đầy đủ tính triết học và tính nhạc như các cuốn tiểu thuyết trước, tính châm biếm sâu cay ở những truyện ngắn trước và đặc biệt, là sự tinh tế riêng biệt trong các tiểu luận của Kundera. Cuốn sách này sắp được ra mắt ở Việt Nam.

    Thư Vĩ
    Thể thao & Văn hóa
     

Chia sẻ trang này