Ngu Í NGUYỄN – HỮU – NGƯ bút hiệu Nguiễn-Ngu-Í – Ngê-Bá-Lí – Tân-Fong-Hiệb

Tin đăng trong 'Tác giả | Authors' bởi admin, Cập nhật cuối: 19/08/2018.

Tags:
  1. admin

    admin Administrator Staff Member

    Tham gia :
    16/04/2018
    Bài viết:
    14.279
    Lượt thích:
    189
    Điểm thành tích:
    125.887
    [​IMG]

    Ngu Í NGUYỄN – HỮU – NGƯ bút hiệu Nguiễn-Ngu-Í – Ngê-Bá-Lí – Tân-Fong-Hiệb

    Sanh ngày 20-4-1921 tại làng Tam-tân huyện Hàm-tân tỉnh Bình Thuận, cha là Nguyễn Hữu Hoàn, vốn người Hà-tĩnh. Thất bại trong phong trào chống sưu thuế ở Nam-Ngãi, vô Nam-Trung lập gia đình ở một làng chậm tiến, dạy học và gieo mầm dân chủ dân tộc và mở mang dân trí. Mẹ là Nghê thị Mỹ người Tam-Tân, thuộc một gia đình trung lưu thấm nhuần Nho giáo.

    Học trường Trung học Trương Vĩnh Ký (Pétrus Ký), được thầy Việt văn là Phạm Thiều khuyến khích và nâng đỡ, sau đó được người đàn anh là Trúc Hà chỉ dẫn thêm. Lúc học, kết thân với Trần văn Khê và sau đó với Nguyễn Mỹ Ca, Lưu Hữu Phước, Huỳnh văn Tiểng, Mai văn Bộ, Nguyễn văn Trung (Yã Hạc).

    Phụ với các bạn sinh viên trong việc truyền bá những bài hát lịch sử và thanh niên của Lưu Hữu Phước, phong trào truyền bá vệ sinh và tân y học, phong trào học sinh và phong trào thanh niên (1941-1945):

    Cộng tác với Nam kỳ tuần báo của cụ Hồ Biểu Chánh (1942) rồi làm phụ tá thư kýí tòa soạn kiêm thầy cò tuần báo “Thanh niên” do Huỳnh Tấn Phát rồi Mai văn Bộ điều khiển (1943-1944).

    Dự vào cuộc thành lập hội truyền bá quốc ngữ Nam kỳ (phó thư ký) và thời chớm nở của Thanh niên tiền phong.

    Tháng tám năm 1945, làm tổng thư ký đầu tiên của Ủy ban Nhân dân cách mạng xã nhà, bị cách chức và an trí.

    Năm 1946, ở trong Ủy ban ủng hộ kháng chiến Phú-Yên, dẫn dắt tiểu đội thiếu sinh diễn kịch và hô hào cêu gọi đồng bào ủng hộ kháng chiến ở vùng La-hai. Rồi ra Hà-nội, giúp việc ở phòng Thiếu nhi toàn quốc, do Lưu Hữu Phước phụ trách.

    Cuối năm 1946, giúp việc ở đài phát thanh Tiếng nói miền Nam nước Việt nam, tại chiến khu Tây sơn ở Quảng Ngãi do Nguyễn văn Nguyễn và Huỳnh văn Tiểng điều khiển.

    Ở trong bạn soạn sách nhi đồng (với Phan Huỳnh Điểu) của nhà xuất bản và nhà sách Hoa-niên, do Nguyễn Biên sáng lập với Trần Hoàng, Vũ Bão, Bùi Đặng Hà Phan…

    Bị an trí 2 lần vì tội “hành động, nói năng có phương hại đến cuộc Kháng chiến (1947-1950).

    1952, cùng vợ hồi cư về Sài-gòn, dạy học tư ở các trường LÊ BÁ CANG, TÂN DÂN, LÊ VĂN HAI, CẤP TIẾN, TÂN THỊNH (Sài-gòn), TÂN PHƯƠNG (Gia-Định), TRƯƠNG VĂN TRÁNG (Cần Đước), MINH ĐỨC (Trảng Bàng), J.J ROUSSEAU, SAINT – EXUPÉRY, rồi MINH HƯNG, NGUYỄN CÔNG TRỨ, phụ trách các môn Việt, Hán, Sử-Địa, Pháp-văn và Công-dân.

    Biên tập viên nhật báo Phương Đông (Hồ Hữu Tường: chủ nhiệm, Lê văn Siêu: chủ bút), phụ trách mục “gia đình văn nghệ”.

    Bị bắt cuối năm 1955 cùng một số anh chị em, và bị an trí ở trại cải huấn Tân Hiệp, Biên Hòa.

    Viết báo chuyên về các nhân vật phi thường của dân tộc, như Hồ Qúy Lý, Nguyễn Huệ, Phan Bội Châu, Phan Chu Trinh… và về phỏng vấn giáo dục thanh niên, nhất là về văn nghệ (văn, học, nhạc) cho tạp chí BÁCH KHOA từ ngày thành lập (1957) cho đến nay (1969). (lúc in tập sách QÊ HƯƠNG).

    Đã xuất bản ba quyển sách đề cao tình nghĩa vợ chồng, tình dân tộc: “KHI NGƯỜI CHẾT CÓ MẶT” (tiểu thuyết, 1962), “SỐNG VÀ VIẾT VỚI…” (đàm luận và phỏng vấn, 1966), “HỒ THƠM, NGUYỄN HUỆ – QUANG TRUNG” hay “GIẤC MỘNG LỚN CHƯA THÀNH” (biên khảo, 1967). Sách giáo khoa: “LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP ĐỆ THẤT” ký Phạm Hoàn Mĩ, Le français par la radio (với Pierre Vieillard).

    Ở trong các hội KHUYẾN HỌC NAM VIỆT, HỘI TRUNG-VIỆT ÁI HỮU, HỘI CỰU HỌC SINH TRƯỜNG TRƯƠNG VĨNH KÝ, TRUNG TÂM VĂN BÚT VIỆT-NAM, HỘI THÂN HỮU QUẢNG-NGÃI, HỘI KÝ GIẢ ÁI HỮU VN, HỘI BẠN NHỮNG NGƯỜI BỊNH TÂM TRÍ.

    Sáng lập và chủ trương bốn nhà xuất bản:

    NGÈI XANH (Nguiễn Ngu Í)

    VỀ NGUỒN (Fạm Hoàn Mĩ)

    NÚI CÚ HÒN BÀ ( Ngê Bá Lí)

    KI-GOB-JÓ-CÌ… (Tân-Fong-Hiệb)

    Vào những năm 1934-1938, khi đi học ông đã sáng tác thơ. Được giáo sư Phạm Thiều khen là có khiếu về văn chương. Đến khi lìa bỏ cõi đời, Nguyễn Ngu Í đã để lại một số tác phẩm sau:

    • Lịch sử Việt Nam (Tân Việt, 1956)
    • Khi người chết có mặt (Ngày Xanh, 1962)
    • Sống và chết với...(Bách khoa, 1966. Gồm tiểu sử và chân dung của 12 nhà văn đương đại)
    • Hồ Thơm-Nguyễn Huệ-Quang Trung (Về nguồn, 1967)
    • Qê hương (1969, pha trộn nhiều thể loại văn chương: thơ, truyện, tùy bút, kịch, nhạc, hồi ký, tiểu sử, di chúc...Tác phẩm này được Nguyễn Hiến Lê khen ngợi, Châu Hải Kỳ cho là một "kỳ thư" chưa hề thấy trong văn họ Việt Nam.
    • Thơ điên (1970)
    • Hạnh phúc nơi chính bạn (tiểu luận, 1970)
    • Suối bùn reo (hay 15 câu chuyện phụ nữ, phiếm luận, Trí Đăng, 1970)
    • Có những bài thơ I (do các bác sĩ ở Dưỡng trí viện Biên Hòa in, 1972)

    - Giáo sư Trần Văn Khê là một trong những người bạn của Nguyễn Ngu Í, đã viết như sau:
    Anh Ngư viết văn Pháp rất hay, nhưng anh yêu tiếng Việt, anh lại muốn cho người Việt ai cũng đọc được sách báo nên tham gia rất tích cực phong trào xoá nạn mù chữ. Nguyễn Ngu Í còn sáng tạo ra cách viết chữ quốc ngữ sao cho hợp lý hơn...

    - Nhà biên khảo Nguyễn Hiến Lê kể:
    Anh (Nguyễn Ngu Í) căm phẫn xã hội, căm phẫn thời đại, căm phẫn mọi người. Anh có nhiều lý tưởng, nuôi nhiều mộng cao đẹp mà gặp toàn những điều bất như ý, cứ phải cố nén xuống và sức nén càng mạnh thì sức bùng ra cũng càng mạnh... Ông là một cuộc đời đau khổ nhất và cũng đặc biệt nhất trong giới văn nghệ sĩ hiện đại.

    - Theo nhà văn Sơn Nam thì Nguyễn Ngu Í là một nhà văn nổi tiếng yêu nghề và yêu nước, luôn xót xa vì chuyện đất nước chia đôi. Dường như cả một đời dạy học và hoạt động báo chí ở Sài Gòn, Nguyễn Ngu Í lúc nào cũng trong trạng thái nửa tĩnh nửa điên.

    - Nhà thơ Đỗ Hồng Ngọc nhận định về thơ của Nguyễn Ngu Í (cũng chính là người cậu của mình):
    Thơ của ông có thể người ta thích, có thể người ta không thích. Nhưng đọc thơ ông bao giờ cũng có cảm giác rờn rợn. Ông làm thơ rất nhanh, thơ như túa ra, ứa ra, nhiều bài sần sùi; đọc cứ nghe ấm ách nhưng có bài đọc mượt như nhung. Đọc thơ ông mà hịểu ông thì thấy thương, thương một con người có chí, có lòng mà không đạt được những ước nguyện. Rồi thôi, rồi thành tro bụi như hai câu thơ ông viết sẵn cho đời mình: "Bao nhiêu chí trẻ rồi tro bụi / Một thoáng tình xa cũng ngậm ngùi!".

    - Từ điển văn học (bộ mới) đánh giá:
    Nguyễn Ngu Í không có những tác phẩm quan trọng, nhưng cả cuộc đời ông là một tác phẩm "kỳ dị" pha trộn lòng yêu nước với chữ nghĩa. Tư tưởng cách tân chữ viết đi đôi với ý chí giải phóng dân tộc ra khỏi cảnh dốt nát, nghèo đói, áp bức của người dân bị trị, ra khỏi cuộc chiến tàn khốc, ra khỏi những bất công của xã hội mà tiền bạc, tham nhũng, phản bội, lừa lọc là những yếu tố chủ đạo. Suốt đời (Nguyễn Ngu Í) xông vào cuộc đấu tranh đó với một ý chí quyết liệt của "người hùng", nhưng tất cả đều vô hiệu, không ai nghe.
     
    Đang tải...

Chia sẻ trang này